- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Nguyễn Thúy N - Giám đốc sở y tế tỉnh Lào Cai"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 01/2018/LĐ – ST Ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố I cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 29/2012/NĐ-CP Về tuyển dụng, sử dụng và quản lý…; Điều 13 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP Quy định về xử lý kỷ luật viên ch…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/LĐ - PT Ngày 02 - 10 - 2018 V/v“Tranh chấp liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng làm việc”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Phi Long
Các Thẩm phán: Ông Trương Quyết Thắng, bà nguyễn Thị Lương.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 02/2018 TLPT - LĐ ngày 23 tháng 7 năm 2018 về việc "Tranh chấp liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng làm việc”.
Do bản án Lao động sơ thẩm số 01/2018/LĐ - ST Ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố I bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2018/QĐXXST - LĐ ngày 22/8/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2018/QĐPT-LĐ ngày 06/9/2018 và thông báo mở lại phiên tòa số: 01/2018/QĐPT-LĐ ngày 14/9/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy N - Sinh năm 1970;
Địa chỉ: Số nhà 66c, làng L, tổ 17, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Trọng T
Địa chỉ: Tổ 30, phường P, thành phố I, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
- Bà Lương Thị Kim X.
Địa chỉ: Số nhà 361, đường H, tổ 11, phường A, thành phố I, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Ông Trần Thu N. Luật sư thuộc văn phòng luật sư V và cộng sự.
Địa chỉ: Số nhà C15, ngõ 88, phố R, phường Y, quận G, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Bị đơn: Giám đốc Sở Y tế Lào Cai. Người đại diện theo pháp luật ông Nông Tiến C. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khối 5, Đường O, phường M, thành phố I, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hoàng Quốc H - Phó Giám đốc Sở Y tế Lào Cai. Có mặt.
Địa chỉ: Khối 5, Đường O, phường M, thành phố I, tỉnh Lào Cai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần N - Luật sư văn phòng Luật sư H thành phố E, tỉnh Yên Bái.
Địa chỉ: Số nhà 286, đường F, phường F, thành phố E, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:
Đầu tháng 9/2016 chị Nguyễn Thúy N có làm đơn xin thôi việc và đơn xin nghỉ tự túc gửi cho chị Hà Thị H là cán bộ phòng tổ chức của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai. Sau khi nộp đơn được khoảng hơn 01 tháng, chị N có lên hỏi chị H và cán bộ Sở Y tế về đơn xin thôi việc nhưng được trả lời chưa có kết quả, trong thời gian chờ đợi giải quyết xin thôi việc chị N vẫn nghỉ nghỉ tự túc. Đến ngày 25/10/2016 chị N thấy chưa nhận được bất cứ thông tin nào về việc giải quyết nghỉ thôi việc nên chị có gọi điện thoại cho chị H hỏi về việc đã có quyết định giải quyết thôi việc cho chị chưa nhưng chị H không nghe điện thoại nên chị N có nhắn 02 tin cho chị H với nội dung “Em bảo cơ quan giải quyết thế nào thì giải quyết, thu thẻ bảo hiểm y tế của chị rồi, mây tháng nay chị đi điều trị ngoài mất bao nhiêu tiền do hoàn cảnh gia đình ốm đau không đi làm được nữa, muốn làm thế nào thì làm”. Chị N xác nhận trong thời gian nghỉ tự túc, chị có chuyển nhà về Hà Nội sinh sống nhưng chị vẫn còn tên sinh hoạt tại tổ dân phố số 05, phường Kim Tân, thành phố I, tỉnh Lào Cai. Phòng tổ chức Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai khi tiến hành kỷ luật chị không thông báo cho chị biết, chị cũng không nhận được Quyết định về việc cho chị nghỉ tự túc. Sau khi hết 03 tháng từ khi chị nộp đơn xin nghỉ, chị không nhận được thông báo của Bệnh viện nên theo quy định của Bộ luật Lao động là sau khi hết 45 ngày chị có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Việc áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với chị N là không đúng theo trình tự quy định, hình thức ban hành văn bản không đúng. Do đó Sở Y tế Lào Cai ban hành Quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với chị là trái với quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Lương Thị Kim X trình bày:
Ngày 06/9/2016, chị Nguyễn Thúy N có đơn xin nghỉ thôi việc (do hoàn cảnh gia đình và bản thân bệnh tật ốm đau nên phải chuyển công tác) nộp cho Bệnh viện thì đồng thời chị cũng có đơn xin nghỉ tự túc (lý do chờ giám đốc Sở Y tế ra quyết định nghỉ thôi việc). Trong đơn xin nghỉ việc và đơn xin nghỉ tự túc chị N đều nêu rõ lý do xin nghỉ việc của mình. Khoa Dinh dưỡng và Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai đã phê đồng ý cho chị N nghỉ tự túc theo nguyện vọng vào đơn xin nghỉ tự túc ngày 06/9/2016 của chị N. Sau đó Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 322/ QĐ-BVT ngày 12/9/2016 về việc cho chị N nghỉ tự túc. Chị N đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về việc nghỉ việc theo quy định của pháp luật, trong 45 ngày Sở Y tế không giải quyết nguyện vọng của chị N nên chị có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 3 Điều 5 và khoản 4 Điều 29 Luật Viên chức.
Về trình tự xử lý kỷ luật không đúng quy định của pháp luật. Theo Nghị định 27 năm 2012 quy định là giấy triệu tập phải báo trước cho người được triệu tập 03 ngày, ngoài ra giấy triệu tập số 588 ngày 26/12/2016 là không đúng quy định (ngày ký giấy triệu tập sau ngày được triệu tập). Do đó Biên bản kỷ luật cũng như các báo cáo khác và quyết định sau này căn cứ vào biên bản số 02/BB-BVT ngày 16/01/2017 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai là không có giá trị pháp luật. Ngoài ra, khi Bệnh viện đa khoa tỉnh ra Quyết định số 322 cho chị N nghỉ tự túc và các thông báo yêu cầu chị N quay trở lại làm việc nhưng chị N không được nhận các văn bản trên. Về phía Sở Y tế và Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai không cung cấp được các chứng cứ đã gửi các văn bản đó cho chị N.
Nay nguyên đơn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết buộc Giám đốc Sở Y tế Lào Cai hủy Quyết định buộc thôi việc số: 212 ngày 21/3/2017 về việc kỷ luật đối với viên chức với hình thức buộc thôi việc đối với chị Nguyễn Thúy N, giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc (13 năm 09 tháng) là 31.000.200đ, chế độ trợ cấp thất nghiệp 06 tháng là 15.415.920đ, bồi thường thiệt hại, danh dự bị mất việc do bị kỷ luật nên không xin được việc làm (từ tháng 4/2017 đến 4/2018) là 53.143.200đ, trợ cấp mất việc làm (mỗi năm đi làm trợ cấp 01 tháng tiền lương) là 85.644.000đ, tổng cộng là 185.203.320đ (Một trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm linh ba nghìn, ba trăm hai mươi đồng) và giải quyết cho chị Nguyễn Thúy N được nghỉ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Hoàng Quốc Hương và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Ngọc trình bày:
Chị Nguyễn Thúy N vào công tác tại Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai tháng 4/1996 theo chế độ tập sự. Đến tháng 7/1997, chị N được tuyển dụng theo Quyết định tuyển dụng số: 79 ngày 04/7/1997 tuyển dụng biên chế chính thức. Ngày 06/9/2016 chị Nguyễn Thúy N có đơn xin thôi việc và đồng thời có đơn xin nghỉ tự túc. Việc giải quyết cho chị N nghỉ tự túc là thuộc thẩm quyền của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai.
Về việc vi phạm kỷ luật lao động của chị Nguyễn Thúy N: Trước tháng 06/2016, bà Nguyễn Thúy N là Bác sĩ làm việc tại khoa Y học cổ truyền - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, do có vi phạm về chuyên môn và thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc nên bị bệnh nhân làm đơn phản ánh với lãnh đạo bệnh viện, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai đã họp kiểm điểm (có biên bản kèm theo) và quyết định luân chuyển vị trí công tác đối với bà N về khoa Dinh dưỡng - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai từ ngày 06/06/2016. Đến ngày 06/09/2016, bà Nguyễn Thúy N đồng thời có Đơn xin nghỉ tự túc và Đơn xin thôi việc gửi lãnh đạo bệnh viện. Theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ, Gám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã có Quyết định số 322/QĐ-BVT 12/9/2016 về việc giải quyết cho bà Nguyễn Thúy N nghỉ tự túc (từ ngày 01/9/2016 đến 30/11/2016) và ngày 12/9/2016 có Công văn số 411/BVT-TCCB gửi Sở Y tế tỉnh Lào Cai xin ý kiến về việc giải quyết cho cán bộ viên chức nghỉ thôi việc (trong đó có trường hợp bà Nguyễn Thúy N). Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 38 Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ (quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức), Sở Y tế tỉnh Lào Cai có Công văn số 1334/SYT-TCCB ngày 11/10/2016 trả lời chưa đồng ý giải quyết thôi việc theo nguyện vọng cho 04 Bác sĩ (trong đó có bà Nguyễn Thúy N) vì lý do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế.
Sau khi có ý kiến của Sở Y tế, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã 03 lần phát hành thông báo bằng văn bản (vào các ngày 20/10/2016 - 28/10/2016 và 07/11/2016) gửi bà Nguyễn Thúy N để thông báo không đồng ý giải quyết thôi việc và yêu cầu bà N trở lại đơn vị tiếp tục làm việc. Do bà N đang nghỉ tự túc theo Quyết định số 322/QĐ-BVT, không có mặt tại Lào Cai và cũng không cung cấp địa chỉ chỗ ở cụ thể hiện tại, nên Bệnh viện phải cho cán bộ liên lạc trực tiếp với bà N qua điện thoại di động - số máy xxxxxxxxxx và xxxxxxxxxxx (vào thời gian nêu trên) để thông báo nội dung 03 văn bản trên nhưng bà N đều viện lý do sức khỏe để thoái thác, thậm chí có thái độ thách thức (gửi tin nhắn cho chị Hà Thị H - Phòng tổ chức cán bộ ngày 25/10/2016 với nội dung:“Em bảo cơ quan giải quyết thế nào thì giải quyết, thu thẻ bảo hiểm y tế của chị rồi, mây tháng nay chị đi điều trị ngoài mất bao nhiêu tiền do hoàn cảnh gia đình ốm đau không đi làm được nữa, muốn làm thế nào thì làm”) và không chấp hành yêu cầu của tổ chức. Hết thời gian nghỉ tự túc (30/11/2016), mặc dù biết chưa được cơ quan giải quyết cho thôi việc nhưng chị N vẫn không trở lại đơn vị làm việc liên tiếp nhiều ngày mà không có bất kỳ đơn từ thông báo gì đối với Bệnh viện là vi phạm kỷ luật, vi phạm quy định những điều viên chức không được làm tại Điều 19 Luật Viên chức. Hành vi vi phạm kỷ luật lao động này của chị Nguyễn Thúy N là rõ ràng và phải bị xem xét xử lý kỷ luật lao động theo quy định.
Về quy trình xem xét kỷ luật đối với chị Nguyễn Thúy N: Trên cơ sở báo cáo của khoa Dinh dưỡng về việc vi phạm kỷ luật của bà Nguyễn Thúy N, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh có báo cáo gửi Sở Y tế và ngày 15/12/2016, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai có Công văn số 1601/SYT-TCCB chỉ đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai tiến hành các thủ tục xem xét kỷ luật đối với các viên chức vi phạm kỷ luật (trong đó có bà Nguyễn Thúy N).
Ngày 23/12/2016, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh ban hành Quyết định số 456/QĐ-BVT về việc thành lập Hội đồng kỷ luật đối với viên chức làm việc tại bệnh viện do có hành vi tự ý nghỉ việc nhiều ngày không lý do. Bệnh viện đã chỉ đạo khoa Dinh dưỡng tổ chức kiểm điểm đối với chị N, đồng thời ban hành thông báo triệu tập chị N đến tham dự phiên họp của Hội đồng Kỷ luật. Tuy nhiên, cả 03 lần được triệu tập (có thông báo trực tiếp cho chị N qua số điện thoại di động xxxxxxxxxx) nhưng chị Nguyễn Thúy N đều không có mặt. Trước việc chị N cố tình vắng mặt, ngày 16/01/2017, Hội đồng Kỷ luật của Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã họp xem xét kỷ luật đối với chị N. Tại cuộc họp, 100% thành viên của Hội đồng Kỷ luật đã bỏ phiếu kín nhất trí đề nghị áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với chị N do vi phạm khoản 5 điều 13 Nghị định 27/2012/NĐ- CP ngày 06/04/2012 của Chính phủ.
Ngày 24/01/2017, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai nhận được Báo cáo số 12/BC-BVT ngày 17/01/2017 về việc đề nghị kỷ luật viên chức với hình thức buộc thôi việc kèm toàn bộ hồ sơ tài liệu có liên quan chứng minh sai phạm của chị N. Qua xem xét hồ sơ đề nghị kỷ luật viên chức của Bệnh viện Đa khoa tỉnh, xét thấy cần xác minh thêm một số vấn đề có liên quan, đồng thời nắm bắt lại tâm tư nguyện vọng và tạo cơ hội sửa sai cho viên chức theo chủ trương chung của tỉnh về quản lý sử dụng cán bộ viên chức, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai đã ký Quyết định số 65/QĐ-SYT ngày 25/01/2017 gia hạn thời hạn xử lý kỷ luật thêm 60 ngày đối với các viên chức (trong đó có chị Nguyễn Thúy N). Tuy nhiên, do chị Nguyễn Thúy N không nhận thức được sai phạm của bản thân và không có ý thức hợp tác với cơ quan quản lý nên ngày 21/03/2017, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai đã ký ban hành Quyết định số 212/QĐ-SYT về việc kỷ luật buộc thôi việc đối với chị Nguyễn Thúy N kể từ ngày 01/04/2017.
Ngày 24/3/2017 chị Nguyễn Thúy N nhận quyết định buộc thôi việc và không có ý kiến gì, đến tháng 08/2017 (sau khi có quyết định kỷ luật 05 tháng), chị N mới có đơn đề nghị gửi đến Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai và một số cơ quan chức năng của tỉnh. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của tỉnh, ngày 29/08/2017, Sở Y tế tỉnh Lào Cai đã mời chị Nguyễn Thúy N lên làm việc tại Phòng Tổ chức cán bộ để trực tiếp trao đổi, nghe ý kiến phản hồi và giải thích cho chị Nguyễn Thúy N về việc quyết định kỷ luật buộc thôi việc của Giám đốc Sở Y tế đối với bà là đúng theo quy định của pháp luật. Ngày 05/09/2017, Giám đốc Sở Y tế đã có báo cáo gửi UBND tỉnh Lào Cai về việc giải quyết đơn đề nghị của chị Nguyễn Thúy N.
Căn cứ các quy định của Luật Viên chức năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012), Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/04/2012 (có hiệu lực từ ngày 25/05/2012) và Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/04/2012 (có hiệu lực từ ngày 01/06/2012) của Chính phủ, việc Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với chị Nguyễn Thúy N là có căn cứ và đúng pháp luật, nhằm giữ nghiêm kỷ luật trong quản lý sử dụng cán bộ, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ viên chức trong tình hình hiện nay, đặc biệt là đối với ngành y tế tỉnh Lào Cai, do đang gặp nhiều khó khăn về nguồn nhân lực.
Việc chị Nguyễn Thúy N khởi kiện yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 212/QĐ-SYT ngày 21/03/2017 của Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy N.
Quá trình giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân thành phố I, tỉnh Lào Cai đã mở phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng không đạt kết quả.
Bản án sơ thẩm số 01/2018/LĐ – ST Ngày 27- 6 – 2018 của Tòa án nhân dân thành phố I đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 32; điểm c Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 7 của Bộ luật Lao động; Điều 2, Khoản 1 Điều 19, điểm b Khoản 1 Điều 29 của Luật Viên chức ngày 15 tháng 11 năm 2010; Điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thúy N đề nghị hủy bỏ Quyết định số: 212/QĐ- SYT ngày 21/3/2017của Giám đốc Sở Y tế Lào Cai về việc buộc thôi việc đối với chị Nguyễn Thúy N, giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc (13 năm 09 tháng) là 31.000.200đ, chế độ trợ cấp thất nghiệp 06 tháng là 15.415.920đ, bồi thường thiệt hại, danh dự bị mất việc do bị kỷ luật nên không xin được việc làm (từ tháng 4/2017 đến 4/2018) là 53.143.200đ, trợ cấp mất việc làm (mỗi năm đi làm trợ cấp 01 tháng tiền lương) là 85.644.000đ, tổng cộng là 185.203.320đ (Một trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm linh ba nghìn, ba trăm hai mươi đồng) và giải quyết cho chị N được nghỉ thôi việc theo nguyện vọng.
2. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thúy N được miễn toàn bộ tiền án phí Lao động sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 06 tháng 7 năm 2018, chị Nguyễn Thúy N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 01/2018/LĐST ngày 27/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố I.
Tại phiên toà phúc thẩm: Người khởi kiện chị Nguyễn Thúy N giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai Phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và các thẩm phán; Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai cũng như người bảo vệ quyền lợi ích của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thúy N, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố I theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:
Xét đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thúy N, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thúy N được làm đúng theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự và nộp trong hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận.
Về nội dung kháng cáo: Chị Nguyễn Thúy N đề nghị Tòa án giải quyết buộc Giám đốc Sở Y tế Lào Cai hủy Quyết định số: 212 ngày 21/3/2017 về việc buộc thôi việc đối với chị và giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc tổng cộng là: 185.203.320đ (Một trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm linh ba nghìn, ba trăm hai mươi đồng) vì vi phạm trình tự xử lý kỷ luật viên chức.
Xét thấy Chị Nguyễn Thúy N là Viên chức tại Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai tháng từ 4/1996 theo chế độ tập sự. Đến tháng 7/1997, chị N được tuyển dụng theo Quyết định tuyển dụng số: 79 ngày 04/7/1997 tuyển dụng biên chế chính thức. Những năm đầu chị N luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao với tinh thần trách nhiệm cao. Tuy nhiên từ năm 2016 chị N không nhiệt huyết đối với công việc được giao, cụ thể là việc thăm khám cho các bệnh nhân, do có vi phạm về chuyên môn và thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc nên đã có bệnh nhân làm đơn phản ánh với lãnh đạo bệnh viện. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai đã họp kiểm điểm và quyết định luân chuyển vị trí công tác đối với chị N về khoa Dinh dưỡng - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai từ ngày 06/06/2016.
Ngày 06/09/2016, chị N đồng thời có Đơn xin nghỉ tự túc và Đơn xin thôi việc và chị đã được nhận Quyết định số 322 của bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai về việc cho chị nghỉ tự túc (từ ngày 01/9/2016 đến 30/11/2016). Ngày 11/10/2016 sở y tế có Công văn số 1334/SYT-TCCB của sở y tế trả lời chưa đồng ý giải quyết thôi việc theo nguyện vọng cho chị Nguyễn Thúy N vì lý do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế. Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã 03 lần phát hành thông báo bằng văn bản (vào các ngày 20/10/2016 - 28/10/2016 và 07/11/2016) gửi bà Nguyễn Thúy N để thông báo không đồng ý giải quyết thôi việc và yêu cầu bà N trở lại đơn vị tiếp tục làm việc. Hết thời gian nghỉ tự túc (30/11/2016), mặc dù biết chưa được cơ quan giải quyết cho thôi việc, lẽ ra chị N phải có mặt tại đơn vị để tiếp tục công tác chứ không thể tự ý nghỉ việc liên tục nhiều ngày khi chưa được sự đồng ý của cơ quan quản lý lao động trực tiếp, nhưng chị N vẫn không trở lại đơn vị làm việc liên tiếp nhiều ngày mà không có bất kỳ đơn từ thông báo gì đối với Bệnh viện, hành vi của chị N đã vi phạm quy định những điều viên chức không được làm tại Điều 19 Luật Viên chức, nên Sở y tế căn cứ vi phạm để thi hành kỷ luật buộc đối với chị Nguyễn Thúy N là có căn cứ.
Về quy trình xem xét kỷ luật đối với chị Nguyễn Thúy N: Trên cơ sở báo cáo của khoa Dinh dưỡng về việc vi phạm kỷ luật của chị Nguyễn Thúy N, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh có báo cáo gửi Sở Y tế và ngày 15/12/2016, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai có Công văn số 1601/SYT-TCCB chỉ đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai tiến hành các thủ tục xem xét kỷ luật đối với các viên chức vi phạm kỷ luật (trong đó có bà Nguyễn Thúy N).
Ngày 23/12/2016, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh ban hành Quyết định số 456/QĐ-BVT về việc thành lập Hội đồng kỷ luật đối với viên chức làm việc tại bệnh viện do có hành vi tự ý nghỉ việc nhiều ngày không lý do. Bệnh viện đã chỉ đạo khoa Dinh dưỡng tổ chức kiểm điểm đối với chị N (nhưng chị N vắng mặt do trước khi nghỉ chị không thông báo địa chỉ cụ thể), đồng thời ban hành thông báo triệu tập chị N đến tham dự phiên họp của Hội đồng Kỷ luật. Tuy nhiên, cả 03 lần được triệu tập (thông báo trực tiếp cho chị N qua số điện thoại di động xxxxxxxxxx) nhưng chị Nguyễn Thúy N đều không có mặt. Trước việc chị N cố tình vắng mặt, ngày 16/01/2017, Hội đồng Kỷ luật của Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã họp xem xét kỷ luật đối với chị N. Tại cuộc họp, 100% thành viên của Hội đồng Kỷ luật đã bỏ phiếu kín nhất trí đề nghị áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với chị N do vi phạm khoản 5 điều 13 Nghị định 27/2012/NĐ- CP ngày 06/04/2012 của Chính phủ.
Ngày 24/01/2017, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai nhận được Báo cáo số 12/BC-BVT ngày 17/01/2017 về việc đề nghị kỷ luật viên chức với hình thức buộc thôi việc kèm theo Biên bản số 02/BB-BVT ngày 16/01/2017 của Hội đồng kỷ luật Bệnh viện Đa khoa tỉnh và toàn bộ hồ sơ tài liệu có liên quan chứng minh sai phạm của viên chức. Qua xem xét hồ sơ đề nghị kỷ luật viên chức của Bệnh viện Đa khoa tỉnh, xét thấy cần xác minh thêm một số vấn đề có liên quan, đồng thời nắm bắt lại tâm tư nguyện vọng và tạo cơ hội sửa sai cho viên chức theo chủ trương chung của tỉnh về quản lý sử dụng cán bộ viên chức, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai đã ký Quyết định số 65/QĐ-SYT ngày 25/01/2017 gia hạn thời hạn xử lý kỷ luật thêm 60 ngày đối với các viên chức (trong đó có chị Nguyễn Thúy N). Tuy nhiên, do chị Nguyễn Thúy N không nhận thức được sai phạm của bản thân và không có ý thức hợp tác với cơ quan quản lý nên ngày 21/03/2017, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Lào Cai đã ký ban hành Quyết định số 212/QĐ-SYT về việc kỷ luật buộc thôi việc đối với chị Nguyễn Thúy N kể từ ngày 01/04/2017.
Về vấn đề thông báo các văn bản cũng như các lần triệu tập của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai để xét kỷ luật viên chức: Do chị N khi chuyển nơi cư trú không thông báo cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai biết địa chỉ mới, nên Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai đã thông tin cho chị Nguyễn Thúy N biết được nội dung các công văn, quyết định của bệnh viện và sở y tế được thể hiện qua những người làm chứng như chị Hà Thị H, chị Đào Thị H, anh Lê Huy L và anh Bạch Văn C là những người không có mâu thuẫn gì với chị, hiện công tác tại phòng tổ chức cán bộ và khoa dinh dưỡng BVĐK tỉnh Lào Cai có gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thúy N rất nhiều lần vào 02 số máy điện thoại chị N thường dùng đó là số xxxxxxxxxxx và số xxxxxxxxxx để trao đổi về Quyết định của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai cho chị được nghỉ tự túc và thông báo của Sở Y tế về việc không đồng ý cho chị N được nghỉ thôi việc, thông báo cho chị N phải có mặt tại cơ quan để tham gia phiên họp xét kỷ viên chức. Tiến hành thu thập chứng cứ Tòa án đã nhận được 02 văn bản phúc đáp: số: 224/VNPTLC- KTĐT ngày 05/3/2018 và số: 648/VNPTLC - KTĐT ngày 28/5/2018 của Viễn thông Lào Cai (VNPT) cung cấp. Kết quả cho thấy có sự việc chị Hà Thị H và các cán bộ Phòng tổ chức BVĐK tỉnh đã trực tiếp gọi điện cho chị Nguyễn Thúy N cụ thể vào các ngày 18/10/2016, 21/10/2016, 22/10/2016, 24/10/2016, 28/10/2016, 27/12/2016, 29/12/2016 và ngày 10/01/2017 (Thể hiện tại các bút lục số 221, 222, 286 và 287 trong hồ sơ vụ án ). Ngoài ra chị Nguyễn Thúy N cũng thừa nhận chị có nhắn tin cho chị Hà Thị H vào ngày 25/10/2016 với nội dung “Em bảo cơ quan giải quyết thế nào thì giải quyết, thu thẻ bảo hiểm y tế của chị rồi, mấy tháng nay chị đi điều trị ngoài mất bao nhiêu tiền do hoàn cảnh gia đình ốm đau, không đi làm được nữa, muốn làm thế nào thì làm”. Mặt khác, tại phiên tòa chị Nguyễn Thúy N thừa nhận chị có nhận được Quyết định số: 322/QĐ- BVT ngày 12/9/2016 của BVĐK tỉnh về việc cho chị nghỉ tự túc thì. Mặc dù, việc thông báo các văn bản cũng như các lần triệu tập của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai là chưa phù hợp với quy định, nhưng không làm thay đổi bản chất của sự việc. Vì vậy, việc chị N cho rằng, chị không nhận được bất kỳ thông tin gì về Quyết định của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai cho chị được nghỉ tự túc và thông báo của Sở Y tế về việc không đồng ý cho chị được nghỉ thôi việc, thông báo cho chị N phải có mặt tại cơ quan để tham gia phiên họp xét kỷ viên chức đối với đối với việc nghỉ tự túc và kỷ luật là không có căn cứ.
Về hình thức và nội dung Quyết định số: 212/QĐ - SYT ngày 21/3/2017 của Sở Y tế Lào Cai, kỷ luật viên chức bằng hình thức “Buộc thội việc” đảm bảo căn cứ pháp lý, đúng nội dung, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục ban hành. Quyết định kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc đối với chị Nguyễn Thúy N về hành vi vi phạm cụ thể là“Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch, năm dương lịch”.
Từ những phân tích trên, xét thấy Bản án sơ thẩm số 01/2018/LĐ – ST Ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố I xử không chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thúy N là hoàn toàn chính xác, phù hợp với các quy định của pháp luật. Kháng cáo của của chị Nguyễn Thúy N là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thúy N được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 7 của Bộ luật Lao động; Điều 2, khoản 1 Điều 19, điểm b khoản 1 Điều 29 của Luật Viên chức ngày 15 tháng 11 năm 2010; Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 01/2018/LĐ – ST Ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố I cụ thể:
Bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thúy N đề nghị hủy bỏ Quyết định số: 212/QĐ- SYT ngày 21/3/2017của Giám đốc Sở Y tế Lào Cai về việc buộc thôi việc đối với chị Nguyễn Thúy N, giải quyết các chế độ và bồi thường thiệt hại, danh dự bị mất việc do bị kỷ luật tổng cộng là 185.203.320đ (Một trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm linh ba nghìn, ba trăm hai mươi đồng) và giải quyết cho chị N được nghỉ thôi việc theo nguyện vọng.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thúy N được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TANDCC 1; - VKSNDTC 1; -VKSND tỉnh Lào Cai 2; - TAND TPLC; 1; - Chi cục THADS TPLC 2; - Các đương sự; ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. 2. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phi Long |