vanban.org

Bản án 02/2018/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Thanh K .

Chị Nguyễn Thị Thanh K được ly hôn với anh Hồ Ngọc T . [2] Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy con: Hồ Nguyễn Ngọc Hân Sinh ngày 8 tháng 10 năm 2007 cho đến khi con trưởng thành và tự lập được, chị K không yêu cầu anh T cấp d-ưỡng nuôi con. Anh T có quyền đi lạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án sơ thẩm hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Thanh K .
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐĂK TÔ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2018/HNGĐ
Ngày 13/8/2018
Về việc “ Xin ly hôn, nuôi
con chung ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKTÔ, TỈNH KONTUM

VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Long.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Mai và bà Tạ thị Lệ Huyền.

- Thƣ ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đoàn Anh Phương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐăkTô tham gia phiên toà: Bà Y Hà: Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ĐăkTô, tỉnh KonTum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn và nhân gia đình thụ lý số: 20/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018, về việc “xin ly hôn, nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXX-ST ngày 27/7/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh K - Sinh năm 1985 - có mặt.

Hộ khẩu thường trú: Khối 3, thị trấn ĐT, huyện C, tỉnh KonTum, nơi ở hiện nay: Khối 9, thị trấn ĐT, huyện C, tỉnh KonTum.

* Bị đơn: Anh Hồ Ngọc T - Sinh năm 1982 - vắng mặt.

Trú tại: Khối 3, thị trấn Đ T, huyện C, tỉnh KonTum.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/4/2018 và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh K trình bày: Qua một thời gian tìm hiểu tự nguyện chị và anh T đã đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn số 91 ngày 07/12/2006 tại UBND thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh KonTum. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không chịu làm ăn, suốt ngày lêu lổng, rong chơi, sống không có trách nhiệm với gia đình, với vợ con, cuộc sống hàng ngày thường xuyên cãi lộn nhau, mặc dù đã được gia đình khuyên giải nhưng vẫn không cải thiện được nên từ tháng 5 năm 2017 chị K đã thuê nhà trọ ở riêng cũng từ đó đến nay chị và anh T sống ly thân nhau. Sau khi được Tòa án tiến hành hòa giải ngày 22/5/2018 về nhà anh T không chịu sửa chữa khuyết điểm, vẫn chứng nào tật ấy. Nay chị khẳng định không còn tình cảm vợ chồng với anh T và chị kiên quyết xin đư-ợc ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con tên Hồ Nguyễn Ngọc Hân - Sinh ngày 18 tháng 10 năm 2007. Nguyện vọng của chị khi ly hôn được nuôi con và không yêu cầu anh Tú cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Hồ Ngọc T : Công nhận lời trình bày của chị K về quá trình kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Nhưng anh vẫn còn thương yêu vợ con nên anh không đồng ý với ý kiến của chị K mà mong chị kết bỏ qua và mong muốn được đoàn tụ. Về con chung, tài sản chung, nợ chung của vợ chồng anh công nhận đúng như lời khai của chị K , anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh T chỉ tham gia phiên hòa giải lần 1; đã được Tòa án tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh T không gửi văn bản ghi ý kiến của mình và vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành phiên hòa giải được.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhận xét việc chấp hành pháp luật về tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý đơn đến khi xét xử là đảm bảo đúng quy định pháp luật, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, bị đơn anh Hồ Ngọc T chấp hành không đầy đủ những quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng. Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh K ; chị Kết được ly hôn với anh Tú, giao cho chị K nuôi con Hồ Nguyễn Ngọc Hân - Sinh ngày 18 tháng 10 năm 2007, không ai được quyền cản trở việc anh T đi lại thăm nom, chăm sóc con chung. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Chi K phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh K vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Ngọc T ; Yêu cầu được nuôi con chung là Hồ Nguyễn Ngọc Hân - Sinh ngày 18 tháng 10 năm 2007, không yêu cầu anh Tú cấp dưỡng nuôi, không yêu cầu chia tài sản chung. Xét yêu cầu khởi kiện của chị Kết thấy rằng:

[1] Tranh chấp giữa chị K và anh T là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chi K và anh T đều có cùng địa chỉ: Khối 3, thị trấn Đăk Tô, huyện ĐăkTô, tỉnh KonTum. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh K và anh Hồ Ngọc T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Tô. Đây là hôn nhân hợp pháp, theo quy định tại khoản 1 điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi thụ lý vụ án: Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần 1. Tại phiên hòa giải chị K cho rằng tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T thực sự không còn thương yêu nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhiều năm, anh T không lo làm ăn, suốt ngày lêu lổng quán xá, kinh tế gia đình một mình chị gánh vác, sống không có trách nhiệm với vợ con làm cho cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng. Từ tháng 5 năm 2017 chị K đã thuê nhà trọ ở riêng cũng từ đó đến nay chị và anh T sống ly thân nhau. Như vậy là chị K không còn tình cảm vợ chồng với anh T nữa, mục đích hôn nhân không đạt được.

Anh Hồ Ngọc T công nhận lời khai của chị K tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên hòa giải lần 1 là hoàn toàn đúng sự thật, nhưng anh cho rằng tình cảm của anh với chị K vẫn còn, chưa đến mức phải ly hôn, anh mong Tòa án hòa giải để vợ chồng sớm đoàn tụ. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên hòa giải để hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện anh T không thiện trí để hòa giải mâu thuẫn của vợ chồng.

Vì vậy lý do xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị Thanh K là có căn cứ. Cần áp dụng điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận đơn khởi kiện của chị K , xử cho chị K được ly hôn anh Hồ Ngọc T là phù hợp với quy định của pháp luật.

* Về con chung: Chị K và anh T đều công nhận vợ chồng có 01 con chung là con Hồ Nguyễn Ngọc Hân: Sinh ngày 08 tháng 10 năm 2007. Chị K có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Xét điều kiện thực tế của chị K và anh T thì hiện tại chị K có việc làm và thu nhập ổn định còn anh T việc làm không ổn định, thu nhập bấp bênh nếu giao con cho anh T nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Mặt khác tại bản tự khai của cháu Hồ Nguyễn Ngọc Hân thì nguyện vọng của cháu xin được ở với mẹ. Vì vậy áp dụng khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu Hồ Nguyễn Ngọc Hân cho chị Nguyễn Thị Thanh K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành và tự lập đươc là phù hợp, đảm bảo để cháu Hân có cuộc sống bình thường. Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Thanh K không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, nếu xem xét thì vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện.

Về án phí: Chị K phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 điều 28; 35; 39; Các điều 228, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51; 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng điều 144; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Thanh K .

+ Chị Nguyễn Thị Thanh K được ly hôn với anh Hồ Ngọc T .

[2] Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy con: Hồ Nguyễn Ngọc Hân Sinh ngày 8 tháng 10 năm 2007 cho đến khi con trưởng thành và tự lập được, chị K không yêu cầu anh T cấp d-ưỡng nuôi con. Anh T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, mà không ai được ngăn cản.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh K phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền chị Kết đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0003438 ngày 10/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Tô. Chị Kết đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/8/2018) Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án để xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Anh Hồ Ngọc T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ