vanban.org

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Trịnh Quang T được ly hôn với bà Lê Thị Kim V.

2/ Về con chung: Có 01 con chung tên Trịnh Quang T, sinh ngày 05/11/1995 đã trưởng thành. 3/ Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trịnh Quang T xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Trịnh Quang T được ly hôn với bà Lê Thị Kim V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2018/HNGĐ-ST
Ngày 08/01/2018
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lệ Thƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Từ Ngọc Viễn.

2. Bà Phan Thị Đẹp.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 08 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 642/2017/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2017 về việc tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/12/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2017/QĐST-HNGĐ ngày 18/12/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trịnh Quang T, sinh năm 1967 (Có mặt).

Địa chỉ: Số 12/2 đường L, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Kim V, sinh năm 1965 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 243 đường B, khu phố T, phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trịnh Quang T trình bày: Do quen biết ông và bà Lê Thị Kim V tìm hiểu nhau được 04 năm, đến năm 1994 thì tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 25/4/1994 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T), thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung sống tại gia đình nhà bà V số 243 đường Bắc, khu phố T, phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Năm 2013 vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn nguyên nhân do ông làm nghề biển đi làm về giao cho bà V chi tiêu không rõ ràng nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà V có người đàn ông khác, vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 đến nay; sau khi ly thân, ông sống tại số 12/2 đường L, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà V có 01 con chung tên Trịnh Quang T, sinh ngày 05/11/1995 đã trưởng thành.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với bà V; con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bà Lê Thị Kim V, Tòa án nhân dân thành phố M đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định, nhưng bà V không nộp bản tự khai hoặc các văn bản thể hiện ý chí của mình đối với yêu cầu của ông T và vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phần trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định: [2] Về tố tụng: Đối với bị đơn bà Lê Thị Kim V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để xét xử, nhưng bà V vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với bà V. [3] Tranh chấp giữa ông Trịnh Quang T và bà Lê Thị Kim V là tranh chấp “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. [4] Tại phiên Tòa ông T yêu cầu được ly hôn với bà V; con chung đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết; tài sản chung, nợ chung không có.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, do quen biết, tìm hiểu ông T và bà V có đăng ký kết hôn và chung sống với nhau từ năm 1994. Quá trình chung sống ông T và bà V phát sinh mâu thuẫn về kinh tế và bất đồng quan điểm trong cuộc sống; ông bà đã ly thân từ năm 2013 đến nay, thời gian ly thân ông bà không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay ông T yêu cầu được ly hôn, bà V vắng mặt không lý do, cho thấy bà V không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, ông T yêu cầu được ly hôn với bà V là có cơ sở phù hợp với qui định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: Tại Tòa ông T xác định giữa ông và bà V có 01 con chung tên Trịnh Quang T, sinh ngày 05/11/1995 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử xét không đặt ra xem xét.

- Tài sản chung, nợ chung: Tại phiên tòa ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt đặt ra xem xét trong vụ án này.

- Về án phí: Ông Trịnh Quang T phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Quang T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Trịnh Quang T được ly hôn với bà Lê Thị Kim V.

2/ Về con chung: Có 01 con chung tên Trịnh Quang T, sinh ngày 05/11/1995 đã trưởng thành.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trịnh Quang T xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

3/ Về án phí: Ông Trịnh Quang T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, ông đã tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011621 ngày 23/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố M, xem như ông đã thi hành xong.

4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

5/ Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ