vanban.org

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Lý và anh Dƣơng Văn Q.

Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Đinh Thị L và anh Dƣơng Văn Q, giao cho chị L trực tiếp nuôi con Dƣơng Diệu Thảo, sinh ngày 04/9/2015, giao cho anh Q trực tiếp nuôi con là Dƣơng Bảo Châu, sinh ngày 07/4/2012 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị L và anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị L ly hôn Dương Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Lý và anh Dƣơng Văn Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26/01/2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hạnh Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị L, sinh năm 1985;

Đăng ký HKTT: Thôn B, xã K, T, tỉnh Hải Dƣơng;

Chỗ ở hiện tại: Thôn P, xã N, T, tỉnh Hải Dƣơng.

Bị đơn: Anh Dƣơng Văn Q, sinh năm 1978;

Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã K, T, tỉnh Hải Dƣơng;

Chị L, anh Q có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 03/01/2018, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Đinh Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dƣơng Văn Q kết hôn với nhau vào ngày 19/01/2011. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn B, xã K, T, sau đó chuyển đến thuê nhà tại thôn P, xã N, T sống. Anh chị chỉ chung sống hạnh phúc đƣợc khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Q không có trách nhiệm với gia đình, hay chơi bời, lô đề dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Từ tháng 11/2017 đến nay, anh Q đã tự bỏ về thôn B, xã K sống, vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Chị thấy không còn tình cảm với anh Q nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh Q.

Về quan hệ con chung: Chị và anh Q có hai con chung là Dƣơng Bảo Châu, sinh ngày 07/4/2012 và Dƣơng Diệu Thảo, sinh ngày 04/9/2015. Từ khi vợ chồng ly thân nhau đến nay, hai con vẫn ở cùng chị. Nguyện vọng của chị muốn đƣợc nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Q cấp dƣỡng.

Về quan hệ tài sản chung: Chị và anh Q không có tài sản chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải tại Tòa án, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, bị đơn là anh Dƣơng Văn Q trình bày về điều kiện, thời gian kết hôn giữa anh và chị L nhƣ lời trình bày của chị L. Tuy nhiên, anh xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do anh và chị L bất đồng quan điểm, chị L đi lấy chồng nhƣng không chăm lo và quan tâm đến gia đình nhà chồng, thỉnh thoảng chị L còn chửi bới, thậm chí đánh và đuổi anh ra khỏi nhà. Vì thế, từ tháng 11 năm 2017 đến nay, anh đã chuyển về sống một mình tại thôn B, xã K, T, vợ chồng không nói chuyện với nhau. Mặc dù anh chị có nhiều mâu thuẫn nhƣng anh không muốn ly hôn vì không muốn các con phải mang tiếng bố mẹ bỏ nhau, anh chấp nhận sống ly thân.

Về con chung: Anh và chị L có hai con chung nhƣ lời trình bày của chị L. Nếu phải ly hôn thì anh đồng ý để chị L nuôi cả hai con.

Về tài sản chung: anh và chị L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin đƣợc ly hôn anh Q, anh Q nhất trí ly hôn và đề nghị đƣợc nuôi một con là Dƣơng Bảo Châu, để chị L nuôi con là Dƣơng Diệu Thảo, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau, chị L nhất trí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị L là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đƣợc thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời hạn giải quyết vụ án, chị L và anh Q không tự thỏa thuận đƣợc các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ đƣa vụ án ra xét xử. Các đƣơng sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Việc xét xử tại phiên tòa thực hiện đúng trình tự luật định. Về hƣớng giải quyết vụ án: tại phiên tòa, chị L xin ly hôn, anh Q nhất trí nên đề nghị HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh Q; chấp nhận sự thỏa thuận của chị L và anh Q, để chị L nuôi con là Dƣơng Diệu Thảo và để anh Q nuôi con là Dƣơng Bảo Châu, chị L và anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau; về án phí: chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña các đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh Dƣơng Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đƣợc UBND xã K, T đăng ký và cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/01/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị L trình bày chị và anh Q chỉ sống hạnh phúc đƣợc 02 năm, sau đó anh Q thƣờng xuyên chơi bời, không có trách nhiệm với vợ con. Còn anh Q xác định trong cuộc sống, anh chị thƣờng bất đồng quan điểm sống, chị L không quan tâm đến gia đình nhà chồng, còn chửi bới, xúc phạm anh. Điều đó chứng tỏ chị L và anh Q đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, quan điểm sống bất đồng. Cả chị L và anh Q đều khẳng định anh chị đã ly thân nhau từ tháng 11/2017 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Ban đầu anh Q không đồng ý ly hôn chị L nhƣng tại phiên tòa, anh Q nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử thấy sự thuận tình ly hôn của chị L và anh Q là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Tại phiên tòa, chị L và anh Q thỏa thuận để chị L nuôi con là Dƣơng Diệu Thảo, để anh Q nuôi con là Dƣơng Bảo Châu đến khi con đủ 18 tuổi, anh chị tự nguyện không yêu cầu bên kia cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay chị L làm công nhân, thu nhập bình quân là 7.500.000 đồng/tháng; anh Q buôn bán, thu nhập bình quân là 10.000.000 đồng/tháng. Do đó, HĐXX thấy sự thỏa thuận này của chị L và anh Q là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của các con nên cần chấp nhận.

Về quan hệ tài sản chung: Cả chị L và anh Q đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Lý và anh Dƣơng Văn Q.

2. Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Đinh Thị L và anh Dƣơng Văn Q, giao cho chị L trực tiếp nuôi con Dƣơng Diệu Thảo, sinh ngày 04/9/2015, giao cho anh Q trực tiếp nuôi con là Dƣơng Bảo Châu, sinh ngày 07/4/2012 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị L và anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Đinh Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AB/2014/0002148 ngày 03/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

4. Về quyền kháng cáo: các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

Cỡ chữ