- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị Hồng P + Nguyễn Xuân D - "Xin ly hôn""
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lương Thị Hồng P. Chị Lương Thị Hồng Pđược ly hôn anh Nguyễn Xuân D.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/HNGĐ-ST Ngày 10/01/2018 V/v ly hôn giữa chị P và anh D |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vƣơng Hồng Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Ngọ;
2. Bà Trần Thị Xuân.
Thƣ ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2017/QĐXX-ST, ngày 25 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Lƣơng Thị Hồng P, sinh năm 1987, có mặt;
Trú tại: Tổ B, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Nguyễn Xuân D, sinh năm 1987, vắng mặt;
Trú tại: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/4/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Lương Thị Hồng P trình bày:
Về hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Xuân D ngày 09/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn,vợ chồng chị chung sống tại tổ B, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và anh D có nhiều biểu hiện bất thường về sức khỏe và thói quen sinh hoạt, dẫn đến xung đột, cãi vã nhau. Mâu thuẫn kéo dài liên tục, nhiều lần anh D đánh đập, chửi bới chị, hàng xóm và tổ phố phải can ngăn. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nên từ tháng 5/2017 anh D đã về nhà bố mẹ đẻ tại thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn sinh sống và vợ chồng chị sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng chị không không quan tâm đến nhau. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị xin ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị Phong xác định vợ chồng chị có một con chung tên là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 11/3/2014. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, vì hiện nay anh D không có thu nhập và công việc ổn định.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định vợ chồng chị không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong bản tự khai đề ngày 28/7/2017, biên bản lấy lời khai ngày 04/12/2017, bị đơn Nguyễn Xuân D trình bày:
Về hôn nhân: Vợ chồng anh tự nguyện kết hôn, tuy nhiên quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa thuận, không hạnh phúc nên đã sống ly thân từ tháng 5/2017 cho đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn với chị Ph.
Về con chung: Anh D xác định vợ chồng anh có một con chung, sau khi ly hôn anh nhất trí giao con chung là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 11/3/2014 cho chị Lương Thị Hồng P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh D xác định vợ chồng anh không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh Nguyễn Xuân D còn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt anh vì hiện nay anh bận nhiều công việc nên không tham gia phiên tòa được.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX sơ thẩm căn cứ các Điều 28, 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, xem xét quyết định chấp nhận đơn xin ly hôn của chị P, chị P được ly hôn với anh D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn nhận định:
1. Về tố tụng: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự, nhưng bị đơn Nguyễn Xuân D đều vắng mặt tại các phiên hòa giải, không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Do vậy, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là có căn cứ.
Sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
2. Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Lương Thị Hồng P và anh Nguyễn Xuân D là hợp pháp. Hai bên đương sự đều thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến thường xuyên xảy ra xung đột, cãi vã, hôn nhân không hạnh phúc, đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2017, đến nay các đương sự đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, chị P cương quyết xin ly hôn và anh D cũng nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị P và anh D đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.
3. Về con chung: Các đương sự có 01 con chung tên là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 11/3/2014. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, chị P có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại bản tự khai ngày 28/7/2017 và biên bản lấy lời khai ngày 04/12/2017, anh D cũng nhất trí sau khi ly hôn giao con chung cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Lương Thị Hồng P không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, anh D có quyền đi lại thăm nom con chung.
Hội đồng xét xử thấy rằng, thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đạo được xã hội. Do vậy, căn cứ vào các Điều 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần công nhận thỏa thuận trên của hai bên đương sự.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử;
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lương Thị Hồng P. Chị Lương Thị Hồng Pđược ly hôn anh Nguyễn Xuân D.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 11/3/2014 cho chị Lương Thị Hồng P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến năm con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Xuân D có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lương Thị Hồng P không yêu cầu, do vậy anh Nguyễn Xuân D không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Chị Lương Thị Hồng P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí do chị P đã nộp theo biên lai số 0010704, ngày 14/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS Tp. Sông Công; - UBND xã Phấn Mễ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vƣơng Hồng Giang |