- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? [1]. Về hôn nhân: Cho bà Hồ Bích Th được ly hôn với ông Trần Thanh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2018/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 01 - 2018 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông La Minh Tường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến nam
Bà Lê Thị Hồng Giang .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 15/2017/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/HNGĐ-ST ngày 03/01/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Bích Th, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Tổ 7 – 223 đường Sóng H, phường Thủy C, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1984;
Địa chỉ: 500 H Rd G B, MD, 21061, Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2017 cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Hồ Bích Th và ông Trần Thanh T quen nhau một thời gian và hai người kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/7/2004.
Sau khi kết hôn, ông Trần Thanh T phải trở lại Hoa Kỳ, thời gian đầu hai người vẫn liên lạc với nhau nhưng về sau thì việc liên lạc thưa dần nên tình cảm ngày càng phai nhạt, vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Nay bà Hồ Bích Th thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt, nên viết đơn xin ly hôn ông Trần Thanh T để sớm ổn định cuộc sống cho hai người.
Đối với ông Trần Thanh T: Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế sau khi thụ lý đã gửi công văn yêu cầu ông Trần Thanh T cung cấp lời khai có liên quan đến yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Bích Th. Ngày 01/10/2017 ông Trần Thanh T có văn bản trả lời cho Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và trình bày ý kiến của mình, qua văn bản ông Trần Thanh T đồng ý ly hôn với bà Hồ Bích T và xin xét xử vắng mặt ông.
Về con chung và tài sản chung: Bà Hồ Bích Th và ông Trần Thanh T xác định vợ chồng không có con chung và tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh có ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án Tòa án chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vấn đề gì cần phải kiến nghị để khắc phục. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho bà Hồ Bích Th được ly hôn ông Trần Thanh T. Về các mối quan hệ khác đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
. Bà Hồ Bích Th và ông Trần Thanh T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện được Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/7/2004 là phù hợp pháp luật.
. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian ngắn thì ông Trần Thanh T trở về Hoa Kỳ. Do điều kiện mỗi người ở một nơi, tình cảm vợ chồng không còn nên bà Hồ Bích Th xin ly hôn ông Trần Thanh T. Trong quá trình xác minh và tại phiên tòa hôm nay bà Hồ Bích T vẫn xin được ly hôn với ông Trần Thanh T. Đối với ông Trần Thanh T đã có văn bản trả lời công văn của Tòa án là ông đồng ý ly hôn với bà Hồ Bích Th. Đồng thời, ông Trần Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, vì điều kiện ở xa không về Việt Nam để tham gia tố tụng được.
Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của các bên đương sự cho bà Hồ Bích Th được ly hôn với ông Trần Thanh T để mỗi người ổn định cuộc sống riêng của mình như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh là có cơ sở.
. Về con chung và tài sản chung: Bà Hồ Bích Th và ông Trần Thanh T xác định là không có và không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.
. Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Bích Th phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, Điều 123, Điều 127, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Về hôn nhân: Cho bà Hồ Bích Th được ly hôn với ông Trần Thanh T.
[2]. Về con chung và tài sản chung: Bà Hồ Bích Th và ông Trần Thanh T xác định là không có và không yêu cầu, nên Toà án không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Bích Th phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng tại biên lai số 005295 ngày 19/6/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bà Hồ Bích Th có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Trần Thanh T trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - Cục THADS tỉnh Thừa Thiên Huế; - Các đương sự; - Lưu HS; - Lưu Tòa DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) La Minh Tường |