vanban.org

Bản án 02/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 16/04/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "DSST"
  • Căn cứ chính? Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 02/2018/DS-ST
Ngày: 16-4-2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

“V/v tranh chấp hợp đồng bảo lãnh”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TỈNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hải

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Sy Quâñ

Ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên tòa:Bà Lê Nữ Ngọc Diệp, Thư ký Tòaán, Tòaán nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa:ÔngNguyễn Minh Thâng.

Ngày 16/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 09/2017/DS-ST, ngày 12/10/2017 về tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/QĐ-TA ngày 12/3/2018 và Thông báo mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 06/4/2018, giữa:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Quố c tế T , đi ̣a chi: Số 16-C, Khu đấu gia

̉

́ QSDĐ My Đĩ nh, phườ ng M, quâ ̣n N, Thành phố H; người đại diện theo pháp luật :

̀ Ông Trần Tuấn A , chức vu ̣: Tổng Giám đốc, vắng mặt; người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Huy P , sinh năm: 1982, địa chỉ : Phòng 2008-CT12B-KĐTM K, quận H, thành phố H, có mặt.

Bị đơn : Bà Nguyễn Thi ̣ X , sinh ngày : 28/02/1989, đi ̣a chỉ : Thôn Xuân Phượng, xã T, huyê ̣n L, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt – đa nhận được Giấy triệu tập hợp̃ lệ.

Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan : Anh Trần Văn S , sinh năm: 1989, đi ̣a chi: Thôn Xuân Phượ̉

ng, xã T, huyê ̣n L, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơvụánvà quá trình tranh tụng tại phiên tòa, vụán có nội dung:Công ty cổ phần Quốc tế Tcó Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp-Mã số doanh nghiệp: 0105740065, ngày cấp 27-01-2015 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp,đi ̣a chỉ trụ sở chính: Ô16-C, khu đấu giáQSDĐ M, phường M, quận N, thành phố Hdo ông TrầnTuấn A chức vụ Tổng Giám đốc là ngườiđại diện theo pháp luật. Công ty được Bộ lao động thương binh và xã hội cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động từ ngày 18-3-2015 với chức năng được hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Ngày 09-5-2017, Công ty Cổ phần Quốc tế Tvà thuyền viên TrầnVăn S ký kết hợp đồngđưa thuyền viên đi làm việc trên tàuđánh cá tại Hàn Quốc số 31. Theo đó, Traminco đưa ông Trần Văn S đi làm việc có thời hạn tại Hàn Quốc để làm việc cho người sử dụnglao động Hàn Quốc là Công ty nhân lực và Vận tải biển Quốc tế (I).

Nội dung bản hợp đồng đã xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó có quy định nghĩa vụ của người lao động (NLĐ) trong thời hạn hợp đồng nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng, vi phạm pháp luật … thì sẽ phải bồi thường cho công ty T. Theo quy định, người xuất khẩu lao động phải có người bảo lãnh, vì vậy bà Nguyễn Thị X là vợ hợp pháp củaông Trần Văn S đã làm các thủ tục bảo lãnh cho chồng đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Bà X đã được Công ty Tphổ biến rõ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của NLĐ, người bảo lãnh cũng như các quy định về bồi thường khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc bỏ trốn tại nơi đang làm việc tại Hàn Quốc.

Ngày 09-5-2017, Traminco, bà Nguyễn Thị X vàông Trần Văn S ký kết hợp đồng bảo lãnh số 31/2017/TVGBHQ-HĐBL. Trong đó, Traminco là bên nhận bảo lãnh, bà Nguyễn Thị X là bên bảo lãnh, ông Trần Văn S là bên được bảo lãnh. Theo đó, phạmvi bảo lãnh mà người bảo lãnh cam kết bảo lãnh cho thuyền viên như sau: “... Thanh toá n tiền phạt vi phạm hợp đồng đưa thuyền viên đi là m viê ̣c ở nướ c ngoài đã ký giữa thuyền viên và T; trong trườ ng hợp thuyền viên vi phạm hợp đồng đưa thuyền viên đi là m viê ̣c tại Hà n Quốc nêu trên , bỏ trốn khỏi nơi làm việc , cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc, thì T sẽ trực tiếp hoặc ủy quyền cho Luật sư liên hê ̣ vớ i ngườ i bảo lãnh để yêu cầu ngườ i bảo lãnh thực hiê ̣n nghia vụ bảo lãnh và xử lý

̃ tất cả vấn đề khá c có liên quan…

; giá trị bảo lãnh là một số tiền tối thiểu 500.000.000 đồng (năm trăm triê ̣u đồng)”.

Việc ký kết hợp đồng giữabàNguyễn Thị Xvới các bên có người làm chứng, hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối, tuân thủ quy đi ̣nh của pháp luật, không tráiđạo đức xã hội, được thể hiện tạiĐơn cam kết bảo lãnhcủa bà Nguyễn Thị X.

Ngày 15-5-2017, ông Trần Văn S đa nhập cảnh vào Hàn Quốc và làm việc̃ cho I với công việc và chế độnhư Hợp đồngđã ký kết.

Ngày 25-5-2017, I thông báo với T về vụ việc thuyền viên Trần Văn S đa bỏ̃ trốn vào ngày 24-5-2017. Ngày 08-8-2017, Ban Quản lý lao động thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốcđã có văn bản số 23/ĐSQ/QLLĐ xác nhậnông Trần Văn S đa vi phạm pháp luật Hàn Quốc, bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng, cữ trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc. Đến thờiđiểm hiện tạiông Trần Văn S vẫn chưa trở lạiIMSCO làm việc.

Ngày 24-7-2017 Công ty Tđa có văn bản số 143/CV-TMC thông báo thuyềñ viên bỏ trốncho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, gia đinh thuyền viên

̀ Trần Văn S và công văn 144/CV-TMC ngày 26-7-2017 gửi Ban quản lý lao động Việt Nam tại Hàn Quốc.

Ngày 08-8-2017, Ban Quản lý lao độngĐại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốcđã có văn bản số 23/ĐSQ/QLLĐ gửi Công ty Quốc tế Txác nhận thuyền viên Trần Văn S đa vi phạm pháp luật Hàn Quốc, bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp̃ đồng, hiện cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.

Với nội dung trên, Công ty Tkhởi kiện lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, yêu cầu bà Nguyễn Thị X bồi thường thiệt hại theo cam kết đã ký với số tiền 500.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, đơn khởi kiệncủa nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 275, 280, 292, 335, 336, 339, 342, 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa,

NHẬNĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1]. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 18/5/2010 giữa TANDTC-BLDDTB&XH- VKSNDTC: “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật khi giải quyết quan hệ tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người đi lao động đi làm việc ở nước ngoài” và quy đi ̣nh tạiĐiều 37, 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụán, bà Nguyễn Thị X đã nhận được giấy triệu tập hợp lệ của Tòa án nhưng liên tục vắng mặt không có lý do và từ chối nhận văn bản tố tụng, Tòaánđalập biên bản để có cơ sở giải quyết vụán. Căn cứ quy định tại điểm b̃ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung: Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc có thời hạn tại Hàn Quốc giữa Công ty Tvà bà Nguyễn Thị X có điểm chỉ, chữ ký củabên bảo lãnh, người được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh vàsự chứng kiến của Luật sư. Trong Hợp đồng bảo lãnh, bà Nguyễn Thị X đã cam kết: “… Thanh toá n chi phi

́ bồi thườ ng thiê ̣t hại do thuyền viên vi phạm hợp đồngđưa thuyền viên đi làm việc ở nướ c ngoà i đã ký vớ i T gây ra; thanh toá n tiền phạt vi phạm hợp đồng đưa thuyền viên đi là m viê ̣c ở nướ c ngoà i đã ký giữa thuyền viên và T; giá trị bảo lãnh là một số tiền tối thiểu 500.000.000 đồng”. Như vậy, bà Nguyễn Thị X có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm thay cho anh Trần Văn Strong phạm vi cam kết bảo lãnh.

Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc có thời hạn tại Hàn Quốc đã ký kết giữa các bên là giao dịch dân sự mang tính tự nguyện, thỏa thuận không trái đạo đức xã hội và phù hợp với pháp luật. Mục đíchbà Nguyễn Thị X cam kết bồi thường đối với Công ty Tnhằm bảo lãnh cho ông Trần Văn Slao động tại Hàn Quốc theo Hợp đồng lao động đã ký giữa ông S và và công ty. Ông S đã tự ý bỏ việc là vi phạm các điều khoản của hợp đồng đã ký, làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đối với người bảo lãnh. Bà X là người tự nguyện ký kết hợp đồng bảo lãnh. Vì vậy phải chịu trách nhiệm bồi thường cho công ty T500.000.000 đồngtheo Hợp đồng bão lãnh đã ký số 31/2017/TVGBHQ-HĐBL ngày 09-5-2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị X vắng mặt và trong quá trình giải quyết vụán thể hiện thái độ trốn tránh, chối bỏ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tòaánđã phối hợp với chính quyền đi ̣a phương trực tiếp tốngđạt Giấytriệu tập cho bà X nhưng bà thiếu tinh thần hợp tác. Do đó, Tòaán căn cứ quy đi ̣nh của pháp luật để bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp cho nguyên đơn cũng là việc tăng cường áp dụng chế tài để răn đe đối với những người lao động vi phạm hợp đồng đặc biệt là lao động làm việcở nước ngoài nhằm hạn chế tình trạng lao động bỏ việc, cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia khác, vi phạm pháp luật Việt Nam và nước sở tại.

Từ những vấn đề trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận nội dung khởi kiện của nguyên đơn, buộc bịđơn phải thanh toán khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng 500.000.000 đồng.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị X phảichịuán phítheo quy đi ̣nh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứĐiều 26, 37, 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 275, 280, 292, , 335, 336, 339, 342, 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;Điều147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Quốc tế T; buộc bà Nguyễn Thị X phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Quốc tế Tsố tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) theo Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc có thời hạn tại Hàn Quốc đã ký kết số 31/2017/TVGBHQ-HĐBL, ngày 09-5-2017 giữa T, bà Nguyễn Thị X vàông Trần Văn S.

Kể từ ngày bản án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t và ngườ i được thi hành án có đơn

yêu cầu thi hành án mà ngườ i phải thi hành án không tự nguyê ̣n thi hành thi phải

̀ chịu lãi suất được quy đi ̣nh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trườ ng hợp có thoả thuâ ̣n khác.

Trườ ng hợp bản án được thi hành theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 2 Luâ ̣t Thi hành án dân sự thi ngườ i được thi hành án và ngườ i phải thi hành án có quyền thoả thuâ ̣n thi

̀ hành án, quyền yêu cầu thi hành án , tự nguyê ̣n thi hành án hoă ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luâ ̣t thi hành án Dân sự , thờ i hiê ̣u thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luâ ̣t thi hành án Dân sự.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị X phải nộp24.000.000 đồngán phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty cổ phần Quốc tế Tsố tiền 10.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 001167 ngày 12-10-2017tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ