- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị B yêu cầu chấm dứt nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc việc nuôi con nuôi của bà Lê Thị B đối với cháu Phạm Lê Thanh T2.
- Căn cứ chính? Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2017/QĐST-HNGĐ Ngày 19/12/2017 V/v việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần giải quyết việc d n :
Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Linh – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Trung Hiếu – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 880/2017/TLVHNGĐ - ST về ―Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi‖ theo Quyết định mở phiên họp số 02/2017/QĐPH HNGĐ - ST ngày 15/11/2017 :
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự :
Bà Lê Thị B, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số 6/21B khu phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lê Thị T1, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Số 6/21B khu phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương
+ Cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010.
Địa chỉ: Số 6/21B khu phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương
+ Người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Lê Thanh T2: Bà Lê Thị B, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số 6/21B khu phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương.
- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Lê Thị B yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010.
(Bà Lê Thị B, Lê Thị T1 và cháu Phạm Lê Thanh T2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên họp).
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các đương sự, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định.
Theo đơn yêu cầu ngày 30/10/2017; bản tự khai ngày 22/11/2017, biên bản lấy lời khai ngày 01/12/2017 người yêu cầu bà Lê Thị B trình bày:
Do bà không có con nên vào năm 2015 bà làm thủ tục nhận con nuôi đối với cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010 là con bà Lê Thị T1 và ông Phạm Quốc K (bà T1 là em ruột của bà), sau đó UBND phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi theo số 03/2015, quyển số 01/2015 ngày 20/10/2015. Thực tế từ khi làm thủ tục nhận cháu Phạm Lê Thanh T2 làm con nuôi thì cháu T2 vẫn ở với cha, mẹ của cháu, bản thân bà không nuôi dưỡng ngày nào. Ngày 03/8/2017, ông Phạm Quốc K chết do tai nạn giao thông, do vậy bà T1 và bà có bàn bạc hủy bỏ việc nhận cháu T2 làm con nuôi của bà cho đúng với thực tế và hoàn cảnh hiện nay của bà. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà và cháu Phạm Lê Thanh T2.
Tại bản tự khai ngày 22/11/201, biên bản lấy lời khai ngày 01/12/2017 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của bà Lê Thị B trong việc nhận nuôi cháu Phạm Lê Thanh T2 làm con nuôi, tuy thủ tục nhận con nuôi giữa bà B và cháu T2 hoàn tất, nhưng cháu T2 vẫn do vợ chồng bà nuôi dưỡng, chăm sóc, bản thân cháu T2 thường xuyên thắc mắc tại sao nhà người khác có 03 người con nhưng cha mẹ vẫn nuôi được nhưng gia đình mình phải cho T2 làm con nuôi bà B. Vào tháng 8/2017 chồng tôi Phạm Quốc K chết do tai nạn giao thông. Qua bàn bạc trong gia đình giữa bà và bà B cũng như cho đúng thực tế hoàn cảnh hiện nay, bà đồng ý việc bà B yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà B với cháu T2.
Theo bản tự khai ngày 22/11/2017, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Phạm Lê Thanh T2 trình bày:
Nguyện vọng của cháu T2 là được tiếp tục sinh sống với mẹ ruột là bà Lê Thị T1 vì cha ruột ông Phạm Quốc K đã chết, nay mẹ nuôi là bà Lê Thị B yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, cháu T2 đồng ý với yêu cầu trên của bà B.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
Từ khi thụ lý cho đến khi giải quyết, thẩm phán và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị B về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Lê Thanh T2.
XÉT THẤY
Về thẩm quyền: Người yêu cầu bà Lê Thị B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1, cháu Phạm Lê Thanh T2 yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi. Bà B bà T1 và cháu T2 hiện đang cư trú tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Do vậy, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thụ lý là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Lê Thị B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1, cháu Phạm Lê Thanh T2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt bà B, bà T1, cháu T2.
Về nội dung: Bà Lê Thị B, bà Lê Thị T1 là chị em ruột, bà B không có con nên nhận nuôi con của bà T1 là cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010 làm con nuôi. Ngày 20/10/2015 UBND phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 03/2015, quyển số 01/2015 xác định cháu T2 là con nuôi của bà B. Tuy nhiên, từ ngày nhận nuôi con nuôi cháu T2 vẫn sinh sống với cha mẹ ruột là ông Phạm Quốc K và bà Lê Thị T2 tại địa chỉ số 6/21B khu phố C, phường H, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, giấy khai sinh của cháu T2 vẫn ghi tên cha Phạm Quốc K, tên mẹ Lê Thị T1 đồng thời mẹ nuôi bà Lê Thị B cũng chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mẹ nuôi đối với cháu T2. Tháng 8/2017 cha cháu T2 ông Phạm Quốc K chết do tai nạn giao thông. Nay bà B, bà T1, cháu T2 có nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà B và cháu T2 là phù hợp với tình hình thực tế cũng như mong muốn của cháu T2 sống cùng mẹ ruột là bà T1.
Xét, về yêu cầu của bà Lê Thị B về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Lê Thanh T2. Căn cứ theo khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010, khoản 1 Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu trên của bà B không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, yêu cầu trên của bà B có cơ sở chấp nhận, đồng thời cũng khôi phục quyền, nghĩa vụ giữa mẹ đẻ bà Lê Thị T1 đối với con đẻ cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010 theo đúng quy định pháp luật.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị B phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 367, 370, 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1, 3 Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 25, 26, 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010; Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc việc nuôi con nuôi của bà Lê Thị B đối với cháu Phạm Lê Thanh T2.
- Chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi giữa bà Lê Thị B với cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010 (Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 03/2015, quyển số 01/2015 ngày 20/10/2015 của UBND phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương không còn giá trị pháp lý).
- Chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa bà Lê Thị B đối với cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010 khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khôi phục các quyền và nghĩa vụ giữa bà Lê Thị T1 với cháu Phạm Lê Thanh T2, sinh ngày 16/7/2010 theo quy định pháp luật.
3. Về lệ phí: Bà Lê Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0010356 ngày 14/11/2017, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - Các đương sự; -UBND phường H - Lưu: VT, HS. | TH M H N – CHỦ T A HI N H V Linh |