vanban.org

Bản án 02/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Cil Yũ K’ Ly Y: Cho chị Cil Yũ K’ Ly Y được ly hôn anh Kơ Să Ha B.

Về con chung: Giao 03 con Cil Yũ Ha In Đ, sinh ngày 30/8/2003; Cil Yũ Nhã P, sinh ngày 21/9/2008 và Cil Yũ Ngọc L, sinh ngày 13/4/2010 cho chị Cil Yũ K’ Ly Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật. Anh Kơ Să Ha B không phải cấp dưỡng nuôi con.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cil Yu K' Ly Y - Kơ Să Ha B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Cil Yũ K’ Ly Y: Cho chị Cil Yũ K’ Ly Y được ly hôn anh Kơ Să Ha B.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 02/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 12 - 2017
V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƢƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Nhuận;

2. Ông Cil Duin.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử công khai vụ án thụ lý số 34/2017/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2017 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2017/QĐXX-ST ngày 04 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cil Yũ K’ Ly Y, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Thôn Đa Hoa, xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Anh Kơ Să Ha B, sinh năm: 1977

Địa chỉ: Thôn Đa Hoa, xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dƣơng.

Địa chỉ: TDP Đăng Lèn, TT. Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung Trực, sinh năm: 1963 - Giám đốc Phòng Giao dịch. “Văn bản ủy quyền số 4716/QĐ-NHCS ngày 25/11/2016”.

(Chi K’ Ly Ya có mặt tại phiên tòa; anh Ha Báo và đại diện Ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/92017 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Cil Yũ K’ Ly Y trình bày:

Chị và anh Kơ Să Ha B đăng ký kết hôn vào năm 1998 tại UBND xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, càng về sau càng xảy ra mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn từ cơm, áo, gạo tiền nên vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Anh Ha B thường xuyên đi chơi, nhậu nhẹt và ít làm việc nhà. Những lúc đi nhậu về anh Ha B nhiều lần sỉ nhục và xúc phạm chị đủ điều. Chị đã ra ở riêng được hơn 06 tháng nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kơ Să Ha B.

- Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung tên Cil Yũ Ha Ry G, sinh ngày 28/4/1999; Cil Yũ Ha In Đ, sinh ngày 30/8/2003; Cil Yũ Nhã P, sinh ngày 21/9/2008 và Cil Yũ Ngọc L, sinh ngày 13/4/2010. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 03 con chưa thành niên là In Đ, Nhã P và Ngọc L; đối với cháu Ry G đã đủ tuổi trưởng thành, cháu muốn ở với bố hay mẹ thì tùy vào ý kiến của cháu. Chị không yêu cầu anh Kơ Să Ha B phải cấp dưỡng nuôi các con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng có nợ Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương số tiền 28.000.000 đồng. Khi ly hôn, chị yêu cầu vợ chồng cùng có trách nhiệm trả số nợ này (mỗi người trả ½).

* Bị đơn anh Kơ Să Ha B trình bày:

Anh và chị Cil Yũ K’ Ly Y đăng ký kết hôn năm 1998 tại Ủy ban nhân dân xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh có nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm sống và nuôi dạy con cái nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh và chị Cil Yũ K’ Ly Y đã sống ly thân hơn 05 tháng nay. Nay chị Cil Yũ K’ Ly Y yêu cầu xin ly hôn thì anh cũng đồng ý vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn.

- Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 04 con chung tên Cil Yũ Ha Ry G, sinh ngày 28/4/1999; Cil Yũ Ha In Đ, sinh ngày 30/8/2003; Cil Yũ Nhã P, sinh ngày 21/9/2008 và Cil Yũ Ngọc L, sinh ngày 13/4/2010. Khi ly hôn, anh đồng ý giao các con cho chị Cil Yũ K’ Ly Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng có nợ Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương số tiền 28.000.000 đồng. Khi ly hôn, anh đồng ý vợ chồng cùng có trách nhiệm trả số nợ này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương, ông Nguyễn Trung Trực - đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vợ chồng chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B có vay của Ngân hàng Chính sách xã hội 28.000.000 đồng, người đứng tên vay là anh Kơ Să Ha B. Cụ thể như sau:

- Vay chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn số tiền 8.000.000 đồng, ngày vay 16/6/2013, hạn trả 16/6/2018. Lãi suất vay: 0,75%/tháng.

- Vay Chương trình Hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn số tiền 20.000.000 đồng, ngày vay 17/3/2017, hạn trả 16/3/2022. Lãi suất vay: 0,75%/tháng.

Nay chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B ly hôn thì yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị K’ Ly Y và anh Ha B hoàn trả tiền nợ gốc 28.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng (lãi tính đến ngày 21/12/2017 là 44.400 đồng).

Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương đã tiến hành hòa giải nhưng không được do anh Ha Báo và đại diện Ngân hàng có đơn xin vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Kơ Să Ha B và đại diện Ngân hàng vắng mặt, chị Cil Yũ K’ Ly Y vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ha B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng dân sự đã theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa nhưng đã có đơn xin vắng mặt.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cil Yũ K’ Ly Y ly hôn anh Kơ Să Ha B.

- Về con chung: Giao cho chị Cil Yũ K’ Ly Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chưa thành niên là Cil Yũ Ha In Đ, sinh năm 2003; Cil Yũ Nhã P, sinh năm 2008 và Cil Yũ Ngọc L, sinh năm 2010. Anh Kơ Să Ha B không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về nợ chung: Mỗi bên phải trả ½ số nợ chung cho Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương là 28.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh trên phần nợ gốc nêu trên.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Do chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B phát sinh mâu thuẫn, chị K’ Ly Y yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Tòa án xác định đây là vụ án “Xin ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn và đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2 ] Về quan hệ hôn nhân: Chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân hơn 06 tháng nay. Nay chị Cil Yũ K’ Ly Y yêu cầu ly hôn, anh Kơ Să Ha B cũng đồng ý. Xét mâu thuẫn giữa chị K’ Ly Y và anh Ha B là trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cil Yũ K’ Ly Y.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B có 04 con chung. Chị K’Ly Y xác định cháu Cil Yũ Ha Ry G, sinh ngày 28/4/1999 đã đủ tuổi trưởng thành và tự lo được cho cuộc sống riêng của cháu. Đối với 03 cháu Cil Yũ Ha In Đ, Cil Yũ Nhã P và Cil Yũ Ngọc L hiện tại đang sống cùng chị Cil Yũ K’ Ly Y ổn định nên chị K’ Ly Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con và không yêu cầu anh Ha B cấp dưỡng nuôi con; anh Ha B cũng đồng ý với yêu cầu của chị K’ Ly Y. Mặt khác, qua quá trình Tòa án xác minh cũng như xem xét nguyện vọng của các cháu thì việc giao các cháu Cil Yũ Ha In Đ, Cil Yũ Nhã P và Cil Yũ Ngọc L cho chị Cil Yũ K’ Ly Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đúng pháp luật.

Về tài sản chung: Chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về nợ chung: Chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B có nợ Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương tổng số tiền gốc là 28.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Vì vậy, buộc chị K’ Ly Y và anh Ha B cùng có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số nợ gốc của 02 hợp đồng vay là 28.000.000 đồng và nợ lãi tính tới ngày 21/12/2017 là 44.400 đồng (trong đó tiền lãi của hợp đồng vay Chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn là 14.400 đồng và tiền lãi của hợp đồng vay Chương trình Hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn là 30.000 đồng).

Về án phí: Chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Cil Yũ K’ Ly Y: Cho chị Cil Yũ K’ Ly Y được ly hôn anh Kơ Să Ha B.

2. Về con chung: Giao 03 con Cil Yũ Ha In Đ, sinh ngày 30/8/2003; Cil Yũ Nhã P, sinh ngày 21/9/2008 và Cil Yũ Ngọc L, sinh ngày 13/4/2010 cho chị Cil Yũ K’ Ly Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật. Anh Kơ Să Ha B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về nợ chung:

- Chị Cil Yũ K’ Ly Y có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương số tiền gốc 4.000.000 đồng + tiền lãi phát sinh tính tới ngày 21/12/2017 là 7.200 đồng theo hợp đồng vay chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn và 10.000.000 đồng tiền gốc + tiền lãi phát sinh tính tới ngày 21/12/2017 là 15.000 đồng theo hợp đồng vay Chương trình Hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn. Tổng cộng tiền gốc là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) và tiền lãi là 22.200 đồng (Hai mươi hai ngàn hai trăm đồng).

- Anh Kơ Să Ha B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương số tiền gốc 4.000.000 đồng + tiền lãi phát sinh tính tới ngày 21/12/2017 là 7.200 đồng theo hợp đồng vay chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn và 10.000.000 đồng tiền gốc + tiền lãi phát sinh tính tới ngày 21/12/2017 là 15.000 đồng theo hợp đồng vay Chương trình Hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn. Tổng cộng tiền gốc là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) và tiền lãi là 22.200 đồng (Hai mươi hai ngàn hai trăm đồng).

Chị Cil Yũ K’ Ly Y và anh Kơ Să Ha B tiếp tục phải chịu tiền lãi trên số nợ gốc còn chưa trả tính từ ngày 22/12/2017 theo mức lãi suất của các hợp đồng đã ký kết.

4. Về án phí:

- Chị Cil Yũ K’ Ly Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 701.000 đồng (Bảy trăm lẽ một ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2015/0001835 ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Dương. Chị Cil Yũ K’ Ly Y còn phải nộp tiếp 701.000 đồng (Bảy trăm lẽ một ngàn đồng) tiền án phí.

- Anh Kơ Să Ha B phải chịu 701.000 đồng (Bảy trăm lẽ một ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện Lạc Dương.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng anh Ha Báo và đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ