vanban.org

Bản án 01 — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M.

Tuyên bố: Anh Đặng Hữu T, sinh năm 1972; có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã chết. Thời điểm chết của anh Đặng Hữu T được xác định là ngày 02/01/2002. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 01/2025/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2025 VỀ DÂN SỰ

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai người yêu cầu, bà Nguyễn Thị M trình bày: Vào năm 1959, bà kết hôn với ông Đặng Văn H sinh năm 1945 (đã chết năm 2000). Ông bà có 05 người con chung gồm: Đặng Thị Thanh H2, sinh năm 1970; Đặng Hữu T, sinh năm 1972; Đặng Thị H, sinh năm 1974; Đặng Thị H2, sinh năm 1975 và Đặng Thị H3, sinh năm 1978.

Thời điểm sau khi kết hôn, gia đình bà sinh sống tại: Số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Năm 1996, con trai bà là Đặng Hữu T bỏ nhà ra đi, không nói cho mọi người trong gia đình biết đi đâu, làm gì. Anh T trước khi bỏ nhà đi chưa xây dựng gia đình và chưa có con. Gia đình bà đã tìm kiếm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng đều không có tin tức gì của anh T còn sống. Anh Đặng Hữu T có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Nay bà Nguyễn Thị M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xác định anh Đặng Hữu T có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã chết.

- Tại đơn xin xác nhận đề ngày 05/7/2024 của bà Nguyễn Thị M có nội dung: Anh Đặng Hữu T, sinh năm 1972; có nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình bỏ nhà đi từ năm 1996, gia đình đã đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức gì của anh Đặng Hữu T. Từ năm 1996 đến nay không có ai có tin tức gì về anh Đặng Hữu T. Nội dung đơn trên đã được chính quyền địa phương tại thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xác nhận là đúng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 367; các Điều 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, tuyên bố anh Đặng Hữu T đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết: Người bị yêu cầu tuyên bố đã chết là anh Đặng Hữu T có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quyền yêu cầu tuyên bố một người đã chết: Bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của anh T nên có quyền yêu cầu tuyên bố anh Đặng Hữu T đã chết theo quy định tại khoản 1 Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu có mặt tại phiên họp, Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự có mặt người yêu cầu.

. Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị M thì thấy: Anh Đặng Hữu T bỏ đi biệt tích từ năm 1996, bà M và gia đình đã đi tìm bằng nhiều biện pháp nhưng không ai biết tin tức gì của anh T là còn sống, anh T trước khi bỏ đi chưa xây dựng gia đình và chưa có con. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố đã chết số 39/2024/QĐ-TBTK ngày 19/11/2024 đối với anh Đặng Hữu T trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại các Điều 392, khoản 2 Điều 388, Điều 384, Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể: Đăng trên Báo Nhân dân 03 số liên tiếp, gồm: số 25216 ngày 24/11/2024; số 25217 ngày 25/11/2024 và số 25218 ngày 26/11/2024; phát trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp, gồm: khung giờ 13 giờ 25 phút-16 giờ 00 phút các ngày 23/11/2024, 25/11/2024 và khung giờ 15 giờ 00 phút-16 giờ 00 phút ngày 24/11/2024; Đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình ngày 05/12/2024. Nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên là ngày 24/11/2024 và tính từ thời gian anh T bỏ đi biệt tích từ năm 1996 đến thời điểm bà M có đơn yêu cầu đã trên 5 năm (tức 28 năm) mà anh Đặng Hữu T vẫn không có mặt tại gia đình và địa phương, không có tin tức xác thực về việc anh Đặng Hữu T hiện còn sống.

Căn cứ Biên bản xác minh ngày 13/12/2024, UBND thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cung cấp: anh Đặng Hữu T, sinh năm 1972, nơi tH2 trú cuối cùng: số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình có thời gian sinh sống tại địa phương ở cùng bố mẹ đẻ là ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị M. Năm 1996, anh T tự ý bỏ đi khỏi địa phương, từ đó đến nay không rõ địa chỉ, nơi tH2 trú, tạm trú và không có thông tin gì về địa phương. Gia đình và địa phương không có tin tức gì về việc anh T còn sống.

Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc tuyên bố anh Đặng Hữu T đã chết theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự.

. Về thời điểm chết của anh Đặng Hữu T: Do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của anh T nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, thời hạn anh T biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng là năm 1996. Như vậy xác định anh Đặng Hữu T đã biệt tích kể từ ngày 01/01/1997, do vậy ngày chết của anh Đặng Hữu T là ngày 02/01/2002. Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người đã chết được thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự.

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị M là người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí giải quyết việc dân sự. Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban tH2 vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 khoản 2 Điều 367, các Điều 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban tH2 vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M.

Tuyên bố: Anh Đặng Hữu T, sinh năm 1972; có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số nhà 89, ngõ 8, khu An Bình (nay là tổ An Bình), thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã chết.

Thời điểm chết của anh Đặng Hữu T được xác định là ngày 02/01/2002.

Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của anh Đặng Hữu T được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của anh Đặng Hữu T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị M được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định này./.

Cỡ chữ