- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị V + Hoàng Phúc M -Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình,
- Căn cứ chính? Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 07/01/2022. V/v “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vi Hồng Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thanh Khiếu.
2. Ông Vũ Đình Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Bàn Thị Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 29/2021/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST- HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị V, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Tổ X, phường Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Hoàng Phúc M, sinh năm 1972;
Nơi ĐKHKTT: Tổ Y, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Hiện nay ông Hoàng Phúc M đang chấp hành án tại Đội A, Phân trại X, Trại Giam P, Cục C10, Bộ Công an.
Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Người làm chứng: Bà Dƣơng Thị T, sinh năm 1945;
Địa chỉ: Tổ K, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Vắng mặt, có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Hoàng Phúc M trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 09/12/1999. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng mấy năm đầu hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mặt khác ông M nghiện chất ma túy, mặc dù bà đã khuyên nhủ rất nhiều lần và đưa ông M đi cai nghiện nhưng ông M vẫn không cai nghiện được. Sau đó ông M vi phạm pháp luật, nên hiện đang chấp hành án tại Trại giam P - Bộ Công an. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy bà kiên quyết xin được ly hôn với ông Hoàng Phúc M.
- Về con chung: Vợ chồng bà có 02 (hai) con chung, con lớn tên là Hoàng Quý L, sinh ngày 07/01/2000; con nhỏ tên là Hoàng Quý T, sinh ngày 12/10/2006. Các con chung đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Hiện các con đang sống cùng bà. Khi ly hôn, đối với con lớn Hoàng Quý L hiện đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với con nhỏ Hoàng Quý T chưa đủ 18 tuổi thì tùy theo nguyện vọng của con, nếu con ở với bà thì bà có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi, bà không yêu cầu ông Hoàng Phúc M cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn ông Hoàng Phúc M:
Do hiện nay ông M đang phải chấp hành án tại Phân trại X, Trại giam P, Cục C10 - Bộ Công an nên Tòa án đã ủy thác cho Trại giam P tiến hành tống đạt thông báo thụ lý và lấy lời khai của ông M theo quy định của pháp luật. Tại biên bản ghi lời khai và bản tự khai ông M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông với bà Đặng Thị V kết hôn với nhau từ năm 1999, có đăng ký kết hôn theo quy định. Nay bà V xin ly hôn với ông thì ông đồng ý ly hôn với bà V.
- Về con chung: Vợ chồng ông có 02 (hai) con chung, con lớn tên là Hoàng Quý L, sinh ngày 07/01/2000; con nhỏ tên là Hoàng Quý T, sinh ngày 12/10/2006. Khi ly hôn, ông đồng ý cho bà Đặng Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông M không đề cập đến vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người làm chứng bà Dương Thị T trong quá trình tố tụng trình bày:
Bà là mẹ đẻ của Hoàng Phúc M, bà biết rất rõ những mâu thuẫn giữa vợ chồng Hoàng Phúc M và vợ là Đặng Thị V, nguyên nhân là do Hoàng Phúc M nghiện ma túy, vào tù ra tội, không có thời gian ở nhà chăm sóc vợ con, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không có hạnh phúc. Nay V làm đơn xin ly hôn với M bà cũng không có ý kiến gì. Bà nhất trí với ý kiến của Đặng Thị V về con chung, tài sản chung và vay nợ chung giữa Đặng Thị V và Hoàng Phúc M.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình Tòa án mở phiên tòa để xét xử, nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Do vậy đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị V.
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đặng Thị V được ly hôn với ông Hoàng Phúc M.
+ Về nuôi con chung: Giao con chung Hoàng Quý T, sinh ngày 12/10/2006 cho bà Đặng Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi.
+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đặng Thị V không yêu cầu ông Hoàng Phúc M phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên đề nghị không xem xét.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Thị V và ông Hoàng Phúc M đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bà Đặng Thị V có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn giải quyết vụ việc ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với bị đơn ông Hoàng Phúc M có hộ khẩu thường trú tại tổ Y, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Quá trình giải quyết vụ án, bà V đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Đặng Thị V và ông Hoàng Phúc M có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt có lý do. Do vậy căn cứ Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
. Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị V và ông Hoàng Phúc M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 09/12/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sinh sống cùng gia đình chồng tại tổ Y, phường Đ, thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn), tỉnh Bắc Kạn. Việc kết hôn của bà V và ông M trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, hôn nhân của bà V và ông M là hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng mấy năm đầu hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống; mặt khác ông M là người có nhược điểm trong sinh hoạt là nghiện chất ma túy, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhiều lần nhưng sau khi trở về địa phương ông M vẫn không cai nghiện được. Từ năm 2018 đến nay ông M vi phạm pháp luật, nên hiện vẫn đang chấp hành án tại Trại giam P - Bộ Công an. Nay bà V xác định tình cảm vợ chồng không còn, việc tồn tại hôn nhân với ông M không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà không còn tình cảm với ông M nữa nên bà kiên quyết xin được ly hôn ông Hoàng Phúc M.
Qua lời khai của người làm chứng và qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của bà V với ông M, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông M là thực tế. Sau khi kết hôn, ông M không có trách nhiệm với vợ con, không lo làm ăn mà chơi bời, nghiện ngập ma túy, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhiều lần nhưng sau khi trở về địa phương ông M vẫn không cai nghiện được. Từ năm 2018 đến nay ông M vi phạm pháp luật nên hiện vẫn đang chấp hành án tại Trại giam P - Bộ Công an. Từ khi bà V kết hôn với ông M đến nay, phần lớn thời gian là ông M phải đi cai nghiện ma túy và đi chấp hành án, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng ngày càng nguội lạnh, đời sống chung đã không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho ông bà. Do vậy việc bà V xin ly hôn với ông M là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng ông có 02 (hai) con chung, con lớn tên là Hoàng Quý L, sinh ngày 07/01/2000; con nhỏ tên là Hoàng Quý T, sinh ngày 12/10/2006. Các con chung đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Hiện các con đang sống cùng bà V tại tổ X, phường Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Khi ly hôn, bà V và ông M đều có nguyện vọng là giao 02 con chung cho bà Đặng Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Xét thấy: Cháu Hoàng Quý L, sinh ngày 07/01/2000 hiện nay đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), hiện đang khỏe mạnh và phát triển bình thường, bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Quá trình làm việc tại Tòa án, cháu Hoàng Quý T, sinh ngày 12/10/2006 có nguyện vọng được sống với mẹ; xét thấy, cháu T từ trước đến nay vẫn sống ổn định với mẹ, được hưởng các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nên cháu phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Mặt khác, hiện nay ông M phải chấp hành án tại Trại giam, không có điều kiện chăm sóc giáo dục con chung. Do vậy giao cháu Hoàng Quý T cho bà Đặng Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Trong biên bản nêu ý kiến, ông Hoàng Phúc M không đề cập đến yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên bà Đặng Thị V không yêu cầu ông M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị V và ông Hoàng Phúc M đều xác định vợ chồng không có tài sản sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 227, 228, 229, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị V được ly hôn với ông Hoàng Phúc M.
2.Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung Hoàng Quý T, sinh ngày 12/10/2006 cho bà Đặng Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Bà Đặng Thị V không yêu cầu ông Hoàng Phúc M cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Bà Đặng Thị V và ông Hoàng Phúc M không có tài sản chung và vay nợ chung.
4. Về án phí: Nguyên đơn bà Đặng Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002005, ngày 17/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận bà Đặng Thị V đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Kạn;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTP Bắc Kạn;
- Chi cục THADSTP Bắc Kạn;
- Các đương sự;
- UBND P.Q, TP Thái Nguyên (Nơi đăng ký kết hôn);
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu trữ.
Vi Hồng Lễ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Nguyệt Thu
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Hoạt
Lƣờng Tuấn Nhã
Tạ Văn Tƣ TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BẮC KẠN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẮC KẠN
TP Bắc Kạn, ngày 15 tháng 9 năm 2020
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 15 tháng 9 năm 2020.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Hoạt
2. Ông Lường Tuấn Nhã
Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 80/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020 về việc xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Tình sinh năm 1994; Địa chỉ: tổ Pá Danh, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Bị đơn: Ông Chu Quang Minh, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: tổ Pá Danh, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay ông Chu Quang Minh đang thi hành án tại Đội 32 Phân trại 1 - Cục Cảnh sát quản lý Trại giam, Cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng Trại Giam Phú Sơn 4 - Bộ Công an (đóng trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả trông tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU
1. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về nội dung giải quyết vụ án:
*Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị Tình đối với ông Chu Quang Minh. Bà Hoàng Thị Tình được ly hôn với ông Chu Quang Minh.
*Về con chung: Giao con chung tên là Chu Hoàng Linh sinh ngày 11/11/2013 cho ông Chu Quang Minh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Trong thời gian ông Chu Quang Minh còn đang chấp hành án, tạm giao cháu Chu Hoàng Linh sinh ngày 11/11/2013 cho ông Chu Quang Đạo và bà Nông Thị Mơi (là ông bà nội của cháu Chu Hoàng Linh) thay ông Chu Quang Minh thực hiện việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Chu Hoàng Linh cho đến khi ông M chấp hành án xong.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
*Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
*Về án phí: Bà Hoàng Thị Tình phải bà u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000135 ngày 30/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn. Bà Hoàng Thị Tình đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
*Về quyền kháng cáo: Bà Hoàng Thị Tình và ông Chu Quang Minh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 20 phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Hoạt Lƣờng Tuấn Nhã
Tạ Văn Tƣ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 01/2019/HNGĐ-ST Ngày:
21/01/2019 V/v trông chấp: “Xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Hoạt;
2. Bà Đoàn Thị Nhâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Dinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 01 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử công khai vụ án thụ lý số: 01/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về trông chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cà Thị Bài, sinh năm 1980;
(Bà Bài vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Ngọc Vang, sinh năm 1977; Có mặt.
Cùng địa chỉ: thôn Khuổi Mật, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2018 và trong quá trình tố tụng, bà Cà Thị Bài trình bày:
Bà kết hôn với ông Phạm Ngọc Vang trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Huyền Tụng, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (nay là Ủy ban nhân dân phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn) vào ngày 29/3/2004. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng những năm đầu hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bà phải đi làm xa nhà, trong thời gian bà đi làm xa, vợ chồng không tin tưởng nhau nên dẫn đến mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2018 cho đến nay, trong thời gian ly thân cuộc sống vợ chồng không hàn gắn được, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên kiên quyết xin được ly hôn với ông Phạm Ngọc Vang.
- Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên là Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 và Phạm Quang Vinh, sinh ngày 02/3/2007, các con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn bà ý kiến là các con chung có nguyện vọng ở với ai thì giao cho người đó trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung đến khi đủ 18 tuổi. Nếu cả hai con đều muốn ở với bà thì bà sẽ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung đến khi đủ 18 tuổi và bà không yêu cầu ông Vang phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu cả hai con chung đều muốn ở với ông Phạm Ngọc Vang thì bà sẽ cấp dưỡng nuôi một con chung tên là Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 với mức mỗi tháng là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Bài tự nguyện bà u án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định để sung công quỹ nhà nước.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai cũng như tại Biên bản hòa giải bị đơn ông Phạm Ngọc Vang trình bày:
Về thời điểm kết hôn đúng như bà Bài trình bày, tuy nhiên sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc không có gì mâu thuẫn lớn, nhưng đến tháng 3/2018 bà Bài bỏ nhà đi làm xa. Đến khoảng cuối tháng 8 năm 2018 bà Bài mới về nhà hai vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn. Nay bà Bài xin ly hôn ông Vang không nhất trí.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 (Hai) con chung tên là Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 và Phạm Quang Vinh, sinh ngày 02/3/2007. Nếu buộc phải ly hôn thì ông Vang nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 (một) con chung tên Phạm Quang Vinh, còn 01 con chung tên là Phạm Thị Linh thì do cháu Linh quyết định. Trường hợp cả 02 con chung quyết định ở cùng với ông Vang và do ông Vang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục thì bà Bài phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 01 (một) con chung tên là Phạm Thị Linh đến khi đủ 18 tuổi.
Theo Biên bản lấy lời khai ngày 04/12/2018 tại Trường Phổ thông trung học cơ sở Huyền Tụng và Biên bản lấy lời khai ngày 10/12/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, cháu Phạm Thị Linh và cháu Phạm Quang Vinh là con chung của nguyên đơn bà Cà Thị Bài và bị đơn ông Phạm Ngọc Vang khai: Hiện nay hai cháu đang sống cùng bố Phạm Ngọc Vang tại tổ Khuổi Mật, phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Trong trường hợp bố mẹ ly hôn, cháu Phạm Thị Linh và cháu Phạm Quang Vinh có nguyện vọng là được ở với bố vì bố luôn quan tâm, chăm sóc các cháu từ trước đến nay. Đồng thời, các cháu ở với bố thì có nhà ở ổn định, được đi học tại Trường Phổ thông trung học cơ sở Huyền Tụng, nơi các cháu đã quen trường, quen lớp. Ngược lại, hiện nay mẹ đang đi làm xa nên chưa có chỗ ở ổn định, khó khăn cho các cháu trong việc sinh sống và học hành.
- Về mức cấp dưỡng: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/12/2018, ông Vang yêu cầu bà Bài phải cấp dưỡng nuôi 01 con chung tên là Phạm Thị Linh với mức tiền mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Nhưng tại phiên hòa giải ngày 10/12/2018 bà Bài tự nhận sẽ cấp dưỡng để nuôi 01 (một) con chung tên Phạm Thị Linh với mức mỗi tháng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi. Ông Vang nhất trí với ý kiến của bà Bài và không có yêu cầu gì thêm. Còn đối với 01 con chung tên Phạm Quang Vinh, sinh ngày 02/3/2007 thì ông Vang không yêu cầu nên bà Bài phải cấp dưỡng nên bà Bài không phải cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, ông Phạm Ngọc Vang không cung cấp thêm chứng cứ nào khác và không có trình bày gì khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành đúng các quy định được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo luật định.
- Về nội dung: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Cà Thị Bài về việc xin ly hôn; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao hai con chung nuôi con chung tên là Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 và Phạm Quang Vinh, sinh ngày 02/3/2007 cho ông Phạm Ngọc Vang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Bà Cà Thị Bài sẽ cấp dưỡng để nuôi 01 (một) con chung tên Phạm Thị Linh với mức là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)/tháng đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết; Về án phí: Bà Cà Thị Bài phải bà u án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định để sung công quỹ nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe bị đơn trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bà Cà Thị Bài có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giải quyết vụ việc xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Giấy triệu tập tham gia phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa cho các đương sự. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cả nguyên đơn bà Cà Thị Bài, bị đơn ông Phạm Ngọc Vang đều có mặt. Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng ông Vang, bà Bài đoàn tụ nhưng không thành. Tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Ngọc Vang có mặt, nguyên đơn bà Cà Thị Bài có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên theo quy định tại khoản điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung theo quy định của pháp luật.
. Về nội dung: Bà Cà Thị Bài và ông Phạm Ngọc Vang kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Huyền Tụng, thị xã Bắc Kạn (nay là phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn) vào ngày 29/3/2004. Đây là hôn nhân tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Do đó, hôn nhân của bà Bài và ông Vang là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng về sau, tình cảm vợ chồng không còn, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, đánh, chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên ông Vang và bà Bài đã sống ly thân hẳn từ tháng 9 năm 2018 đến nay.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh về cuộc sống vợ chồng giữa bà Bài và ông Vang tại địa phương. Kết quả xác minh cho thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa ông Phạm Ngọc Vang và bà Cà Thị Bài thời gian đầu hạnh phúc, nhưng về sau có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn chủ yếu do tình cảm vợ chồng không còn, kinh tế gia đình còn khó khăn nên bà Bài phải đi làm xa, trong thời gian bà Bài đi làm xa nhà, vợ chồng không tin tưởng nhau. Mâu thuẫn càng trầm trọng hơn kể từ khoảng tháng 9/2018 đến nay - khi bà Bài về nhà hai bên đã xảy ra xô xát, đánh, chửi nhau. Sự việc đã được Tổ hòa giải cơ sở tiến hành hòa giải và lập Biên bản sự việc. Sau đó bà Bài lại đi khỏi địa phương đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết xin được ly hôn với ông Phạm Ngọc Vang.
Mặc dù bị đơn ông Phạm Ngọc Vang không thừa nhận giữa hai vợ chồng có sự mâu thuẫn trầm trọng, bà Bài yêu cầu xin ly hôn, ông Vang không nhất trí ly hôn, nhưng ông Vang không có chứng cứ nào, cũng như những trình bày nào khác để chứng minh cho ý kiến của mình là có cơ sở.
Xét về quan hệ hôn nhân giữa bà Cà Thị Bài với ông Phạm Ngọc Vang, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tuy ông Vang không thừa nhận trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nhưng hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là có thật, đã được thể hiện tại các biên bản lấy lời khai, các biên bản xác minh tại địa phương và tại các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ mà Tòa án đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Thực tế, từ tháng 9 năm 2018 đến nay, vợ chồng ông Vang bà Bài đã sống ly thân, trong thời gian ly thân cuộc sống vợ chồng không hàn gắn được, không còn quan tâm đến nhau nữa. Bà Bài đi đâu, ở đâu và làm gì không trao đổi, bàn bạc và cũng không báo cho ông Vang biết. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần động viên bà Bài về đoàn tụ với chồng nhưng bà Bài không về, kiên quyết ly hôn với ông Vang. Điều đó chứng tỏ: hiện nay tình trạng hôn nhân giữa ông Vang, bà Bài không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Việc bà Bài xin ly hôn với ông Vang là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên cần được chấp nhận.
. Về con chung: Vợ chồng ông Phạm Ngọc Vang và bà Cà Thị Bài có 02 (hai) con chung tên là Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 và cháu Phạm Quang Vinh, sinh ngày 02/3/2007, hai con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ông Vang, bà Bài ly hôn, cả hai con chung đều có nguyện vọng được ở cùng ông Vang. Ý kiến của ông Vang và bà Bài đều nhất trí là giao hai con chung cho ông Phạm Ngọc Vang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung đến khi đủ 18 tuổi để đảm bảo tốt nhất cho quyền, lợi ích và sự phát triển của các con chung. Ông Vang có sức khỏe và có khả năng lao động bình thường để nuôi sống bản thân và hai con chung. Còn bà Bài hiện đi làm xa, chưa có nhà ở và công việc, thu nhập ổn định nên khó có khả năng đảm bảo tốt cho các con chung. Do đó, giao hai con chung cho ông Phạm Ngọc Vang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về yêu cầu cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Cà Thị Bài nhận sẽ cấp dưỡng để nuôi 01 (một) con chung tên Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 với mức mỗi tháng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi. Đây là sự thỏa thuận hợp pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, được các đương sự thống nhất nên cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bà Cà Thị Bài phải bà u án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Cà Thị Bài đối với ông Phạm Ngọc Vang. Bà Cà Thị Bài được ly hôn với ông Phạm Ngọc Vang.
2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 và Phạm Quang Vinh, sinh ngày 02/3/2007 cho ông Phạm Ngọc Vang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi hai con chung đủ 18 tuổi (phù hợp với nguyện vọng của các con chung).
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng: Bà Cà Thị Bài có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với 01 (một) con chung tên là Phạm Thị Linh, sinh ngày 15/02/2005 với mức mỗi tháng là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Bà Cà Thị Bài phải bà u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) đối với phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để nộp ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 05296 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn. Bà Bài còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Cà Thị Bài có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Ông Phạm Ngọc Vang có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tp. Bắc Kạn (02b); - Chi cục THADS tp. Bắc Kạn ( 01b, khi Án có hiệu lực); - Các đương sự (01b); - UBND phường Huyền Tụng (01b); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tạ Văn Tƣ |