vanban.org

Bản án 01/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Huế Tuyên án 04/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Quang V; giữ nguyên bản

án sơ thẩm số: 183/2018/HS - ST ngày 19/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRAN VAN QUANG VU - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Quang V; giữ nguyên bản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/HS-PT

Ngày: 04/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh. Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Lộc và Ông Trần Hưng Bính. - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Ái Hoa - Kiểm sát viên. Ngày 04 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2018/TLPT - HS ngày 03 tháng 12 năm 2018, đối với bị cáo: Trần Văn Quang V do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 183/2018/HS - ST ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn Quang V, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1979; tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: 11/3/22 Phú Mộng, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn S và bà Phạm Thị T; có vợ: Hoàng Thị Minh Th và 01 con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/3/2002 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 25/9/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 03 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 05/3/2014 bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2018. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/3/2018 Trần Văn Quang V đi bộ đến khu vực trước chợ Kim Long thì nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Citi màu đỏ, biển số 75 F1 - 9597 của chị Hà Thị Quyền để ở lòng đường sát vỉa hè bên phải cổng chợ Kim Long, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện nên V liền nảy sinh ý định chiếm đoạt. Quan sát thấy không ai để ý, V đến lén lút dắt xe mô tô ra đi một đoạn rồi ngồi lên xe khởi động nổ máy, điều khiển xe tẩu thoát. V điều khiển xe mô tô vừa chiếm đoạt được đến bãi thu mua phế liệu của chị Ngô Thị Lan để bán xe. Tại đây, V gặp chị Lan và nói dối xe cũ quá không làm lại được giấy tờ nên muốn bán xe. Chị Lan nghe vậy tưởng thật nên đã đồng ý mua xe mô tô 75F1 - 9597 với giá 1.000.000 (Một triệu) đồng. Số tiền bán xe được V đã sử dụng tiêu xài vào mục đích cá nhân. Vật chứng thu giữ gồm: - 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Citi màu đỏ, biển số 75 F1- 9597. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 111/KL - HĐĐG ngày 23/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Huế, kết luận: 01 xe mô tô Honda Citi màu đỏ, biển kiểm soát 75 F1 - 9597 có trị giá: 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng chẵn). Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô hiệu Honda Citi màu đỏ, biển số 75 F1 - 9597 cho chị Hà Thị Quyền. Bị cáo V đã bồi thường cho chị Ngô Thị Lan số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng. Chị Quyền, chị Lan không có yêu cầu gì thêm. Tại bản án sơ thẩm số: 183/2018/HS - ST ngày 19/10/2018, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn Quang V 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/7/2018. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 29/10/2018 bị cáo Trần Văn Quang V có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Quang V có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn luật định nên đảm bảo tính hợp lệ. Xét bản án hình sự sơ thẩm số: 183/2018/HS - ST ngày 19/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và xem xét nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản

1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Văn Quang V 08 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp được chứng cứ, tài liệu gì mới để xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ cào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/3/2018 tại trước cổng chợ Kim Long, thành phố Huế, bị cáo Trần Văn Quang V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Citi màu đỏ của chị Hà Thị Quyền, biển kiểm soát số 75 F1- 9597; sau đó đem đến bán cho chị Ngô Thị Lan được số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 111/KL - HĐĐG ngày 23/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Huế đã kết luận: 01 xe mô tô Honda Citi màu đỏ, biển kiểm soát 75 F1- 9597 có giá trị còn lại: 2.400.000 đ (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng chẵn). Với hành vi trên, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xét xử bị cáo Trần Văn Quang V về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đảm bảo đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn Quang V đã thừa nhận bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 là đúng người đúng tội, không oan và bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. [2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn Quang V, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ; hành vi chiếm đoạt, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, lợi dụng sơ hở của chị Hà Thị Quyền để lén lút, cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt xe máy của chị Quyền. Xét nhân thân bị cáo xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân có ích, tiếp tục cố ý phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần giữ gìn trật tự xã hội.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Văn Quang V 08 tháng tù là đã đánh giá đúng tính chất, mức độ và hành vi phạm tội và cũng cân nhắc, xem xét về đặc điểm nhân thân của bị cáo; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu gì mới để có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Do đó, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [4] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên buộc bị cáo phải chịu theo luật định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Quang V; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 183/2018/HS - ST ngày 19/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Văn Quang V 08 (Tám) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/7/2018. 2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn Quang Vphải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng chẵn). 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ