- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Mỹ P. Cho ly hôn giữa chị Bùi Mỹ P và anh Lê Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 09-01-2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hai
Bà Nguyễn Thị Đẹp
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 tháng 12 năm 2022 và ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 321/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Mỹ P, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số nhà 316/2, ấp K, xã L, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số nhà 138, ấp H, xã L, thành phố S, tỉnh Đ.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn chị Bùi Mỹ P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T thông qua mai mối quen nhau được khoảng 03 tháng thì tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn vào ngày 31/5/2005 tại UBND xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn cả hai sống chung bên nhà anh T được khoảng 01 tháng, sau đó vợ chồng về sống bên nhà của cha mẹ của chị P. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không biết lo làm ăn phụ tiếp chị P chăm sóc gia đình, thường xuyên uống rượu, chị P khuyên thì anh T la mắn đập phá đồ đạc trong nhà. Cha mẹ anh T cũng khuyên nhưng anh T không sửa đổi. Từ năm 2015, chị P và anh T sống chung nhà nhưng không quan tâm chăm sóc cho nhau, không ăn chung, không ngủ chung, đến năm 2021 anh T bỏ ra ngoài sống riêng đến nay. Từ khi chị P nộp đơn ly hôn anh T, anh T biết nhưng cũng không có ý kiến gì và không chịu đến Tòa án làm việc.
Nay chị P nhận thấy không còn tình cảm với anh T, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn nên chị P yêu cầu ly hôn anh T.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Lê Thúy A, sinh ngày 09/02/2006, hiện con đang sống với chị P. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con, chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị P không còn yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, bị đơn anh Lê Thanh T:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc hoãn phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 09/12/2022, con của chị P và anh T trình bày: Nếu cha và mẹ ly hôn, không sống chung với nhau thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là chị P.
Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự (nguyên đơn) đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P. Cho chị P và anh T ly hôn.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị P được quyền nuôi con tên Lê Thúy A, sinh ngày 09/02/2006 sau ly hôn.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Thanh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Mỹ P và anh Lê Thanh T chung sống vợ chồng từ năm 2005, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/5/2005 tại UBND xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị P và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh T không quan tâm, chăm sóc cho gia đình, thường xuyên uống rượu, khi uống say còn đập phá đồ đạc trong nhà. Từ năm 2015, anh chị mặc dù sống chung nhà nhưng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó làm cho tình cảm giữa vợ chồng ngày càng tổn thương, rạn nứt, không thể hàn gắn được. Tại phiên tòa, chị P vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn anh T. Về phía anh T quá trình giải quyết vụ án anh T mặc dù biết chị P yêu cầu ly hôn nhưng anh không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không có thiện chí đến Tòa tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm với chị P, cho thấy anh T đã từ bỏ quyền lợi của mình, anh T không mong muốn hàn gắn tình cảm với chị P.
Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh T đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã thực sự trầm trọng. Do đó, chị P yêu cầu ly hôn anh T là có căn cứ và phù hợp với quy pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị P xác định quá trình chung sống với anh T có 01 con chung tên Lê Thúy A, sinh ngày 09/02/2006, hiện con đang sống chung với chị P. Chị P yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con sau ly hôn.
Xét thấy, từ khi được sinh ra cho đến nay cháu An sống chung với chị P và anh T, từ khi vợ chồng sống ly thân cháu A vẫn tiếp tục sống chung với chị P, được chị P và gia đình chị P thương yêu, quan tâm, chăm sóc, hiện cháu A đang học lớp 11 trường THPT thành phố Sa Đéc, có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Phía anh T thiếu sự quan tâm chăm sóc con. Do đó, nhằm giữ vững sự ổn định cho cháu A trong cuộc sống cũng như việc học tập, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao Lê Thúy A cho chị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu A. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Mỹ P phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều: 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Mỹ P. Cho ly hôn giữa chị Bùi Mỹ P và anh Lê Thanh T.
2. Về nuôi con chung: Chị Bùi Mỹ P được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn tên Lê Thúy A, sinh ngày 09/02/2006, hiện con đang sống chung với chị P.
Anh Lê Thanh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Mỹ P không yêu cầu anh Lê Thanh T cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bùi Mỹ P nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị P đã nộp ngày 07/10/2022 theo biên lai thu số 0001059 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Tòa án Tỉnh;
- Viện kiểm sát nhân dân TP Sa Đéc;
- Chi cục THADS TP Sa Đéc;
- UBND xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp;
- Lưu văn thư, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Phấn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Tòa án Tỉnh;
- Viện kiểm sát nhân dân TP Sa Đéc;
- Chi cục THADS TP Sa Đéc;
- UBND xã Tân Phú Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp;
- Lưu văn thư, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Phấn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Tòa án Tỉnh;
- Viện kiểm sát nhân dân TP Sa Đéc;
- Chi cục THADS TP Sa Đéc;
- UBND thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp;
- Lưu văn thư, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Phấn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Tòa án Tỉnh;
- Viện kiểm sát nhân dân TP Sa Đéc;
- Chi cục THADS TP Sa Đéc;
- UBND Phường 4, thành phố Sa Đéc; tỉnh Đồng Tháp.
- Lưu văn thư, hồ sơ vụ án;
Nguyễn Thị Phấn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân TP Sa Đéc; - Tòa án Tỉnh; - Chi cục THADS TP Sa Đéc; - UBND xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò; tỉnh Đồng Tháp. - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phấn |