vanban.org

Bản án 01/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 30/03/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L khởi kiện bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T về việc; Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự; Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL và bà Vũ Thị H chị Vũ Huyền Tr như sau: Bà Vũ Thị H đã trả cho Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL số tiền đã vay là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn) trong số tiền nợ của công ty là 252.000.000 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty nguồn nhân lực TL"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L khởi kiện bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T về việc; Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/DS-ST
Ngày 30 tháng 3 năm 2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Mạnh Đức.

2. Bà Vi Thị Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Hồng Nết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2021/TLST-DS ngày 13/10/2021 về việc; Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐ-ST ngày 14 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL; địa chỉ: Số 02, ngõ 11, phố Bùi Huy Bích, Phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Tô L - Giám đốc, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc H, bà Lương Thị H; địa chỉ: Phòng 1112, tầng 13, số 34 Mạc Thái Tổ, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. “ Văn bản ủy quyền số 01/2021/UQ ngày 15/6/2021” đều có mặt.

2. Bị đơn: Bà Vũ Thị H; địa chỉ: Thôn T Gg, xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Chị Vũ Huyền Tr địa chỉ: Thôn T G, xã NN, huyện S M, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo ủy quyền của chị Vũ Huyền Tr: Bà Vũ Thị H, theo giấy ủy quyền ngày 05/11/2021, chị T vắng mặt, bà H có mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Công ty cổ phần Ia; địa chỉ: 2-2-1 Shimoo, Shinjuku-ku, Tokyo, Nhật Bản. Đại diện theo pháp luật: Ông OTi - Giám đốc. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Trường Sakura Tokai; địa chỉ: 2-62-2 Chaya-Shinden, Gifu-shi, Gifu, Nhật Bản. Người đại diện theo pháp luật: Ông MToda- Hiệu trưởng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/6/2021, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:

Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL là doanh nghiệp được Sở giáo dục đào tạo thành phổ Hà Nội cấp giấy phép hoạt động dịch vụ tư vấn du học số 5008/GCN-SGDĐT ngày 14/11/2018. Công ty đã tư vấn, làm thủ tục xin Visa, nhập cảnh hợp pháp cho chị Vũ Huyền T có hộ khẩu thường trú tại Thôn T G, xã NN, huyện Sông Mã, Sơn La vào nước Nhật Bản từ ngày 22/11/2020 theo chương trình du học Nhật Bản ngành điều dưỡng tại trường Nhật Ngữ Sakura Ta liên kết với Công ty cổ phần Imaid A. Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L đã đồng ý cho bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của chị Vũ Huyền T vay tiền để đóng học phí cho chị Tr trong thời gian 01 năm học tại trường Sakura Tokai và 02 năm tại trường chuyên môn ở Nhật Bản thông qua Hợp đồng cho vay tiền học phí chương trình du học Nhật Bản ngành điều dưỡng số 08/4-2020/HĐVTHP hai bên đã ký ngày 25/3/2020. Theo hợp đồng bà Vũ Thị H đồng ý để Công ty TL sử dụng số tiền mà bà H đứng ra vay quy đổi ra tiền Y của Nhật Bản, chuyển khoản qua Ngân hàng để đóng học phí cho chị H. Theo xác nhận của trường Sakura Tokai thì trường đã nhận đủ học phí của du học sinh Vũ Huyền T từ tháng 4/2020 đến tháng 3/2021 với tổng số tiền 1.500.000 Yên Nhật, trong đó 1.500.000 Yên Nhật =150 Man tiền học phí do Công ty cho vay theo Hợp đồng số 08/4-2020/HĐVTHP ký ngày 25/3/2020 tương đương tiền Việt Nam là 315.000.000 đồng. Ngày 08/3/2021, du học sinh Vũ Huyền Tr có đơn xin dừng chương trình điều dưỡng với lý do mang thai nên không thể tiếp tục chương trình điều dưỡng và xin thôi học. Trong đơn xin dừng chương trình điều dưỡng, du học sinh Vũ Huyền T cũng đã xác nhận khoản vay 150 Man này đồng thời cam kết sẽ hoàn trả số tiền vay theo tiến độ 5 kỳ trả nợ từ 28/3/2021 đến 28/7/2021 tuy nhiên mới trả được 30 Manm (300.000 Yên Nhật tương đương 63.000.000đ). Sau khi về Việt Nam từ 07/4/2021 du học sinh Vũ Huyền T và người vay tiền là bà Vũ Thị H đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, do vậy đã vi phạm hợp đồng cũng như cam kết đã ký với Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL. Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL khởi kiện Tòa án buộc bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T phải liên đới hoàn trả khoản tiền cho vay đóng học phí là 252.000.000đ và tiền lãi suất phát sinh như đã thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền học phí số 08/4-2020/HĐVTHP ngày 25/3/2020.

Theo bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T trình bày:

Bà Vũ Thị H chị Vũ Huyền T xác nhận đã ký hợp đồng số 08/4-2020/HĐVTHP ký ngày 25/3/2020 với Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL vay số tiền 315.000.000đ đã thanh toán được số tiền 63.000.000đ. Mục đích để công ty dùng số tiền này đóng học phí cho con bà là Vũ Huyền T đi du học tại trường Sakura Tokai (Nhật bản). Chị T đã được Công ty đưa sang Nhật Bản theo học ngành điều dưỡng tại trường Sakura Tokai. Việc chị T ở bên Nhật Bản làm việc, học tập như thế nào Bà H không biết. Bà H thấy sau khi chị T sang Nhật Bản học chưa học song đã quay trở về Việt Nam. Ngày 08/3/2021, chị Vũ Huyền T có đơn xin dừng chương trình điều dưỡng với lý do mang thai nên không thể tiếp tục chương trình điều dưỡng và xin thôi học. Trong đơn xin dừng chương trình điều dưỡng, chị T xác nhận khoản vay 150 Man này đồng thời cam kết sẽ hoàn trả số tiền vay theo tiến độ 5 kỳ trả nợ từ 28/3/2021 đến 28/7/2021 tuy nhiên mới trả được 30 Manm (300.000 Yên Nhật tương đương 63.000.000đ). Do bà và chị T vi phạm hợp đồng đã ký kết với Công ty TL bà H và chị Tr nhất trí trả lại số tiền đã vay của công ty, nhưng hiện nay gia đình bà và chị T hoàn cảnh rất khó khăn bà đề nghị công ty giảm một phần số tiền vay cho gia đình bà và chị Vũ Huyền T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trường Sakura Tokai trình bày:

Trường Sakura Tokai hàng năm tuyển hàng ngàn học sinh trong nước cũng như học sinh từ các nước trên thế giới tới học tập tại trường. Để tạo điều kiện giúp du học sinh làm thủ tục khi có nhu cầu tới Trường Sakura Tokai học tập đồng thời thu hút them nhiều du học sinh nước ngoài, trường là đối tác của Công ty cổ phần Imaid A tại Nhật Bản và Công ty cổ phần phát triển nguồn nhận lực TL tại Việt Nam. Du học sinh Vũ Huyền T do Công ty cổ phần Imaid Alpha và Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL giới thiệt và nhập học từ 4/2020. Công ty cổ phần Imaid Alpha đã thay mặt Công ty TL nộp học phí từ 4/2020 đến 3/2021 cho du học sinh Vũ Huyền T. Trường Sakura Tokai xác nhận đã nhận đủ khoản học phí của chị Vũ Huyền T với tổng số tiền 1.500.000 Yên. Ngày 8/3/2021 du học sinh Vũ Huyền T có đơn xin dừng chương trình điều dưỡng với lý do mang thai nên không thể tiếp tục chương trình điều dưỡng và xin thôi học đồng thời hoàn trả học phí đã vay. Đến nay chị Vũ Huyền T không trả tiền cho Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL, Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La. Đây là việc làm cần thiết và trường Sakura Tokai không có ý kiến phản đối với việc khởi kiện này. Nhà trường xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa án đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần Imaid A trình bày:

Công ty cổ phần Imaid A được thành lập và hoạt động đa lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tư vấn giáo giục. Công ty đã hợp tác với Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL là doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam có giấy phép tư vấn du học để thu hút thêm nhiều học sinh và tạo điều kiện cho học sinh Việt Nam tiếp cận được các trường học tại Nhật Bản. Công ty cổ phần Imaid A sẽ thay mặt Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL nộp học phí theo thời hạn và quy định của từng trường học cho các học sinh du học.

Công ty cổ phần Imaid A xác nhận đã làm thủ tục nộp tiền học phí cho du học sinh Vũ Huyền T du học ngành điều dưỡng tại Trường Sakura Tokai kỳ học phí từ tháng 4/2020 đến 3/2021 với số tiền 1.500.000 Yên Nhật tương đương 315.000.000đ. Tháng 3/2021 công ty nhận được thông báo du học sinh hiện đang mang thai và muốn dừng chương trình du học và người bảo lãnh du học và du học sinh đã thống nhất dừng chương trình du học điều dưỡng. Sau khi về Việt Nam từ 07/4/2021 du học sinh Vũ Huyền T và người vay là bà Vũ Thị H đã không thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền vay cho Công ty cổ phần nguồn nhân lực TL như cam kết và hợp đồng. Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL làm đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu trả khoản tiền học phí mà Công ty cổ phần Imaid A đã thay mặt Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL nộp cho các học sinh trên là yêu cầu chính đáng công ty đồng ý. Công ty xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Tại phiên tòa dân sự sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện,

Ý kiến của bị đơn: Bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T do bà H là đại diện, nhất trí nội dung đơn khởi kiện của Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L.

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bà Vũ Thị H đã trả cho Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL số tiền đã vay là 50.000.000 đồng trong số tiền nợ của công ty là 252.000.000đ. Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL nhất trí giảm số tiền vay cho bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T số tiền đã vay là 102.000.000 đ. Số tiền nợ còn lại là 100.000.000đ các bên tự nguyện thỏa thuận thanh toán thành 03 lần cho Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL. Ngày 30/03/2023 bà H và chị T thanh toán cho công ty là 33.333.333đ, lần 2 ngày 30/03/2024 bà H và chị T thanh toán là 33.333.333đ, lần 3 ngày 30/03/2025 bà H và chị T thanh toán là 33.333.333đ.

Nguyên đơn và bị đơn không tự nguyện thỏa thuận với nhau được về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đúng quan hệ pháp luật và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa các đương sự nguyên đơn, bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản về phương thức thanh toán. Việc thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không trái pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự.

Về án phí và chi phí tố tụng: Do các đương sự không tự nguyện thỏa thuận được, buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự; thỏa thuận của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL đã liên kết với Công ty cổ phần Imaid A và trường Sakura Tokai (Nhật Bản) để đưa các học sinh Việt Nam sang Nhật Bản du học. Hồ sơ vụ án thể hiện có việc chuyển tiền giữa Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL với Công ty cổ phần Imaid A và trường Sakura Tokai để đóng học phí cho chị Vũ Huyền T. Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL đã cung cấp các chứng từ chuyển tiền của Công ty cổ phần Imaid A cho trường Sakura Tokai; Hợp đồng hợp tác giữa Công ty cổ phần nguồn nhân lực TL với Công ty cổ phần Imaid A và trường Sakura Tokai. Vụ án có đương sự là người nước ngoài và yếu tố nước ngoài. Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 464; khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã thực hiện tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho các đương sự ở nước ngoài cho Công ty cổ phần Imaid A và trường Sakura Tokai (Nhật Bản) theo điểm a khoản 1 Điều 474, Điều 476 Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tương trợ Tư pháp. Công ty cổ phần Imaid A và trường Sakura Tokai (Nhật Bản) đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Công ty cổ phần Imaid A, trường Sakura Tokai vắng mặt đã đề nghị xét xử vắng mặt có chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự Đại sứ quán Nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản; Chị Vũ Huyền T đã có văn bản ủy quyền cho bà Vũ Thị H; Đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L vắng mặt đã có ủy quyền toàn bộ cho ông Lê Ngọc H bà Lương Thị H. Căn cứ vào Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản và phương thức thanh toán số tiền đã vay, nhưng không thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử vụ án theo quy định.

Nội dung hợp đồng tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp của các đương sự.

Ngày 25/3/2020, Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L và bà Vũ Thị H đã ký hợp đồng cho vay tiền học phí chương trình du học Nhật Bản ngành điều dưỡng số 08/4-2020/HĐVTHP để vay 735.000.000 đồng cho chị Vũ Huyền T, con bà Vũ Thị H, đi du học tại Nhật Bản. Cùng ngày, chị Vũ Huyền Tg và bà Vũ Thị H cũng đã ký kết Văn bản thỏa thuận về việc thanh toán tiền vay theo Hợp đồng số 08/4-2000/ HĐVTHP với Công ty phát triển nguồn nhân lực T L và bản cam kết của chị Vũ Thị H khi vi phạm nghĩa vụ đã được ký kết trong hợp đồng vay tiền. Thực hiện hợp đồng, Công ty TL đã chuyển số tiền 315.000.000 đồng tương đương 1.500.000 Yên Nhật cho trường Sakura Tokai để đóng học phí cho chị Vũ Huyền T (Công ty cổ phần Imail Alpha và trường Sakura Tokai đã xác nhận bằng văn bản ngày 12/4/2020). Trong thời gian học tại Nhật Bản, chị Vũ Huyền Tg đã dừng học và về nước ngày 07/4/2021. Ngày 08/3/2021, chị T thừa nhận việc vi phạm hợp đồng và đề nghị thời gian hoàn trả tiền vay là 5 tháng từ 28/3/2021 đến 28/7/2021 mỗi tháng số tiền 30 man (300.000 Yên Nhật tương đương 63.000.000đ). Theo xác nhận của các bên, chị Vũ Huyền Trang mới trả được số tiền 63.000.000đ, còn nợ số tiền 252.000.000đ. Bà Vũ Thị H và chị Vũ Thị Tg xác nhận khoản nợ đã vay và nhất trí trả nợ số tiền đã vay cho Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL.

Xét hợp đồng cho vay tiền học phí số 08/4-2020/HĐVTHP ngày 25/3/2020 giữa Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL và bà Vũ Thị H là hợp đồng dân sự cho vay tiền là sự thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung của hợp đồng không trái với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do vậy, hợp đồng có hiệu lực pháp luật, các bên đương sự đều thừa nhận việc chị Vũ Huyền T đã bỏ học giữa chừng. Như vậy, căn cứ Điều 288 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; điểm c khoản 2 Điều III Hợp đồng số 08/4-2020/HĐVTHP ngày 25/3/2020 giữa Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL và bà Vũ Thị H; khoản 2 mục I Văn bản thỏa thuận ngày 25/3/2020 giữa Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L và chị Vũ Huyền T. Bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T có nghĩa vụ trách nhiệm liên đới trả lại số tiền đã vay cho Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL.

Xét việc tự nguyện thỏa thuận việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL và bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T do bà H làm đại diện tại phiên tòa và hình thức thanh toán trả nợ là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Luật không trái đạo đức xã hội. Cần chấp nhận công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết; Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Về án phí: Do các đương sự không tự nguyện thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí ủy thác tư pháp. Bị đơn bà Vũ Thị H chị Vũ Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 37; khoản 1 Điều 147; Điều 151, Điều 153, Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L khởi kiện bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T về việc; Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự; Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL và bà Vũ Thị H chị Vũ Huyền Tr như sau:

Bà Vũ Thị H đã trả cho Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL số tiền đã vay là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn) trong số tiền nợ của công ty là 252.000.000 đồng (hai trăm năm mươi hai triệu đồng chẵn). Công ty Cổ phần phát triển nguồn nhân lực TL nhất trí giảm số tiền đã cho vay cho bà Vũ Thị H chị Vũ Huyền T số tiền đã vay là 102.000.000 đồng (một trăm ninh hai triệu đồng chẵn). Số tiền đã vay bà Vũ Thị H chị Vũ Huyễn T còn nợ lại là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng chẵn) của Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực T L được thanh toán cho Công ty thành 03 lần. Lần thứ 1, ngày 30/03/2023 bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T thanh toán cho công ty là 33.333.333 đồng (ba mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba ba đồng). Lần thứ 2, ngày 30/03/2024 bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T có nghĩa vụ thanh toán cho công ty là 33.333.333 đồng (ba mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba ba đồng). Lần thứ 3, ngày 30/03/2025 bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T có nghĩa vụ thanh toán cho công ty là 33.333.333 đồng (ba mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Bà Vũ Thị H và chị Vũ Huyền T phải liên đới chịu 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng chẵn) tiền chi phí ủy thác tư pháp. Tổng cộng là 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng chẵn).

Hoàn trả lại cho Công ty Phát triển nguồn nhân lực TL số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 6.300.000đồng (sáu triệu ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu số 0001451 ngày 12/10/2021 và 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng chẵn) tiền chi phí ủy thác tư pháp theo biên lai thu số số 0001457 ngày 02/12/2021 và biên lai thu số 0001453 ngày 21/10/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự; người đại diện hợp pháp của đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/3/2022); Công ty cổ phần Imaid A và trường Sakura Tokai (Nhật Bản) vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kề từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được hực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ