vanban.org

Bản án 01/2026/KDTM-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 được miễn.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Vụ giám đốc kiểm tra III-TANDTC; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ"
  • Tòa quyết gì? Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 được miễn.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số 01/2026/KDTM-PT
Ngày 25/3/2026
Về“Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân

Các Thẩm phán: ông Lê Văn Thường, ông Phùng Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: ông Trương Quang Hưng

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Nguyệt Minh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, mở phiên tòa công khai tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 03/TBTL-TA ngày 03/11/2025 về “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ” do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 451A/2026/QĐ-PT ngày 10/3/2026 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, giữa:

Nguyên đơn: ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng, sinh năm 1975; địa chỉ: H L, phường T, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Chí T, địa chỉ: D đường L, tổ B, phường H, thành phố Đà Nẵng, ông T, có mặt.

Bị đơn: bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1, sinh năm 1964; địa chỉ: C H, phường T, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Trần Thị Trà L, địa chỉ: A Hồ S, phường S, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. ông Phùng Huỳnh B, sinh năm 1988; địa chỉ: C H, quận T, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

2. Cục Sở hữu trí tuệ; địa chỉ: C - C đường N, quận T, thành phố Hà Nội; Văn phòng đại diện tại thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: A đường M, phường N, thành phố Đà Nẵng; có ông Nguyễn Minh Đ đại diện theo ủy quyền.

3. Sở Y tế thành phố Đ; địa chỉ: Tầng B, Trung tâm hành chính thành phố Đ, B đường T, phường H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

4. Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng (nay là Ủy ban nhân dân phường X; địa chỉ: E T, phường X, thành phố Đà Nẵng), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 25/10/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Phùng Văn T2 – Chủ hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng và đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Phùng Văn T2 là con trai của cụ Phùng N (sinh năm 1926, chết năm 2016). Cụ Phùng N là một lương y có danh tiếng ở thành phố Đà Nẵng với thương hiệu “PHÙNG NỒNG”, khi còn sống cụ Phùng N sinh sống và làm việc tại nhà ở địa chỉ C H, quận T, thành phố Đà Nẵng, ông T2 sống cùng cha từ nhỏ tại căn nhà này. Tuy cụ Phùng N có nhiều con, nhưng chỉ duy nhất ông Phùng Văn T2 theo học nghề của cha, được cha đào tạo ngay từ nhỏ để nối nghiệp. Để thực hiện mong muốn thực hiện là người nối nghiệp cha, ông Phùng Văn T2 ngoài học từ cha đã cố gắng theo học tại các cơ sở đào tạo khám chữa bệnh, kết quả là năm 1990 ông T2 đã được Hội Y học cổ truyền dân tộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cấp “Giấy chứng nhận” đã theo học lớp Truyền nghề - Thừa kế Y học cổ truyền dân tộc. Năm 1998 ông T2 được Sở Y tế thành phố Đ cấp “Giấy chứng nhận” đã học hết chương trình lý luận cơ bản Y học cổ truyền, châm cứu, dược học. Năm 2002, ông T2 được cấp văn bằng chuyên môn là y sỹ, đồng thời ông T2 cũng đã được Sở Y tế thành phố Đ cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, chứng chỉ mới nhất số 000147/DNA-CCHN ngày 05-6-2012 (đây là số chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh mới nhất của ông T2, do có sự thay đổi địa điểm kinh doanh nên được cấp lại). Ngày 26-3-2013, Sở Y tế thành phố Đ cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0193/SYT-GPHĐ cho Phùng Văn ông T2, tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh “Phòng chẩn trị YHCT tư nhân Phùng Nồng” tại địa chỉ H L, quận T, thành phố Đà Nẵng (do thay đổi địa chỉ hoạt động nên ông T2 được cấp lại Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh). Sau quá trình học và làm việc cùng cha tại nhà của cha mình tại C H, quận T, thành phố Đà Nẵng, đồng thời với việc chuyên cần học tại các cơ sở đào tạo ông T2 đã có được các bằng cấp, chứng chỉ do cơ quan có thẩm quyền cấp, đủ điều kiện để hành nghề, ông T2 được cha khuyến khích ra mở riêng cơ sở kinh doanh mới để sau này giữ thương hiệu “PHÙNG NỒNG” cho gia đình khi cha mất, cụ Phùng N đã rất sâu sắc trong việc khuyến khích ông T2 ra mở riêng để giữ thương hiệu, do ông sợ khi mình mất đi căn nhà ông đang ở tại C H, quận T, thành phố Đà Nẵng không thuộc sở hữu của ông T2, vì vậy việc khám chữa bệnh của ông T2 có thể bị gián đoạn, giải pháp tốt nhất là cho ông T2 mở cơ sở mới “PHÙNG NỒNG” hoạt động cùng với cơ sở nhà ở của ông, sau khi ông mất ông T2 sẽ tiếp tục sử dụng xây dựng thương hiệu “PHÙNG NỒNG” của cha mình tại địa điểm kinh doanh của mình.

Thực hiện theo lời của cha để giữ thương hiệu, ông T2 đã mở cơ sở của mình mang thương hiệu “PHÙNG NỒNG” tại đường Nguyễn Hoàng tử năm 2006, đến năm 2012 thì chuyển về nhà ở của ông T2 tại địa chỉ H L, quận T, thành phố Đà Nẵng, đã được UBND quận T cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh ngày 11-4-2012, tên hộ kinh doanh “Hộ kinh doanh phòng chẩn trị YHDT tư nhân Phùng Nồng”, ông hoạt động ổn định tại địa điểm này cho đến nay. Quá trình kinh doanh với thương hiệu “PHÙNG NỒNG” của ông T2 rất được ba ông là Lương y Phùng Nồng ủng hộ, ba ông thường xuyên qua lại, thăm hỏi công việc, bởi do cả gia đình có nhiều người con nhưng chỉ có mỗi ông là theo nghề của ba, rất chịu khó học hỏi, xây dựng thương hiệu của gia đình. Được sự đồng ý của cha là cụ Phùng N và sự đồng thuận khuyến khích của các chị em ruột trong gia đình để bảo vệ thương hiệu của gia đình, ngày 15-4-2015 ông T2 đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”. Đến ngày 07-3-2017 Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 13761/QĐ- SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 cho ông Phùng Văn T2 đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”. Từ giữa năm 2022, qua thông tin quảng cáo trên các trang web, facebook và đi tìm hiểu thực tế tôi nhận thấy nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” của tôi đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017 bị bà Huỳnh Thị T1, chủ hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Phùng Nồng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, cụ thể là các hành vi:

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

Bị đơn này đã sử dụng nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” trong tên hộ kinh doanh, bảng hiệu, nhãn hiệu các loại dược phẩm thảo dược, thuốc xoa bóp..., trên các trang web, địa chỉ email, mạng xã hội (; ; ; https://www.facebook.com/nhathuocphungnong-luongyphunghoang), sau khi phát hiện các cá nhân trên xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ tháng 11-2022 nguyên đơn đã gửi Đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đến các cơ quan Nhà nước nhưng không được giải quyết, vì vậy nguyên đơn đã làm Đơn khởi kiện các cá nhân này.

Theo khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này”. Nguyên đơn đã đăng ký nhãn hiệu và được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật. Theo khoản 1, 2 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ như sau: “1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự bất hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”. Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại: “a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó; b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ”.

Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 78. Khả năng phân biệt của tên thương mại

“Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1. Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;

2. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;

3. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.”

Điểm b khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền “yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại”.

Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành, ông Phùng Văn T2 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng buộc bị đơn:

1. Chấm dứt hành vi xâm phạm nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”.

2. Buộc các bị đơn chấm dứt hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại “PHÙNG NỒNG” và phải tiến hành đổi tên trên Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh tại Phòng Tài chính - Kế hoạch nơi đăng ký bằng cách xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” ra khỏi tên hộ kinh doanh, tên giao dịch, tên viết tắt của mình.

3. Kiến nghị Phòng Tài chính - Kế hoạch của quận T, thành phố Đà Nẵng là nơi bị đơn đăng ký hộ kinh doanh thu hồi và điều chỉnh tên trên Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh bằng cách xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” ra khỏi tên hộ kinh doanh, tên giao dịch, tên viết tắt của các bị đơn.

4. Kiến nghị Sở Y tế thành phố Đ thu hồi và điều chỉnh tên trên Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bị đơn bằng cách xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” ra khỏi tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

5. Buộc bị đơn thu hồi và hủy bỏ các bao gói, nhãn hiệu các sản phẩm như dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, được thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng ... có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG”, và tiêu hủy toàn bộ bao gói, giấy tờ, tài liệu, tờ rơi, biển hiệu có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG”, đồng thời tháo dỡ mọi quảng cáo chào hàng trên môi trường internet có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG”.

6. Buộc bị đơn phải xin lỗi, cải chính công khai ngay khi Bản án, Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, buộc bị đơn phải xin lỗi, cải chính 03 lần liên tiếp trên B1 và báo địa phương tại thành phố Đà Nẵng vì đã có hành vi xâm phạm và sử dụng nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”.

Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn.

* Bị đơn là bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 và người đại diện theo ủy quyền trình bày tại Đơn phản tố, trong quá trình giải quyết vụ án:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì:

Thứ nhất, nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” là họ tên khai sinh của bố chồng bị đơn cụ Phùng N (sinh năm 1925, chết năm 2016). Sinh thời, cụ N là người sáng lập và thực hiện việc khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại Phòng chẩn trị y học cổ truyền P, địa chỉ C H, quận T, thành phố Đà Nẵng từ những năm 1980 của thế kỷ trước tới khi cụ Phùng N qua đời năm 2016. Sau khi cụ N chết, để kế thừa hoạt động của phòng khám, bị đơn thực hiện việc thay đổi Đăng ký kinh doanh cho cơ sở và đã được cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh, Giấy phép hoạt động theo quy định của pháp luật. Hiện tại, phòng khám do cháu nội đích tôn của cụ Phùng N là ông Phùng Huỳnh Bá phụ T3 chính. Như vậy, nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” đã được sử dụng từ rất lâu (trước rất nhiều thời điểm nguyên đơn đăng ký nhãn hiệu) và tiếp tục được duy trì tới thời điểm hiện tại.

Thứ hai, tại thời điểm nguyên đơn nộp đơn xin cấp nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” năm 2015 thì cụ Phùng N vẫn còn sống và đang hành nghề tại Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng do cụ Phùng N sáng lập tại địa chỉ C H, quận T, thành phố Đà Nẵng từ những năm 1980. Do đó, nhãn hiệu nguyên đơn đăng ký không có khả năng phân biệt với hàng hóa, dịch vụ mà cụ Phùng N cung cấp, đồng thời cũng trùng với tên thương mại, hàng hóa, dịch vụ của Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 72; điểm g, điểm k Khoản 2 Điều 74; Khoản 2 Điều 78 Luật Sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, trong đơn khởi kiện nguyên đơn cho rằng mình có được sự đồng ý của cụ Phùng N để nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” nhưng lại không có tài liệu để chứng minh. Điều đó chứng tỏ nguyên đơn đã tự ý nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, trong khi nguyên đơn không có quyền để đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”. Việc Cục sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 ngày 07-3-2017 cho nguyên đơn là trái với quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ. Vì vậy, phía bị đơn không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, kính đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng tuyên bác các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời xem xét chấp nhận các yêu cầu phản tố của bị đơn:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

2. Hủy Quyết định của Cục S trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu số: 277115 ngày 27-4-2017 đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”

3. Tuyên nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” là di sản của cụ Phùng N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Phùng Huỳnh B trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Thứ nhất, Phòng chấn trị y học cổ truyền Phùng Nồng, địa chỉ tại C H, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng do ông nội tôi là cụ Phùng N sáng lập và đã hoạt động liên tục từ những năm 1980 tới khi cụ Phùng N qua đời năm 2016. Vì điều kiện sức khỏe, cha tôi không có khả năng nối nghiệp ông nội tôi nên cụ Phùng N đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn, đào tạo tôi trở thành người nối nghiệp ông nội. Dưới sự bảo ban, hướng dẫn của ông nội, tôi đã tích cực học tập, cùng tham gia vào các hoạt động của Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng ngay từ khi cụ Phùng N còn sống. Sau khi cụ Phùng N qua đời, thực hiện di nguyện của ông nội để lại, tôi cùng với mẹ là Lương y Huỳnh Thị T1 đã kế thừa, tiếp tục duy trì hoạt động, nâng cấp cơ sở vật chất, thực hiện việc quảng bá để hoạt động của Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng được phát triển như hiện nay. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi. Chính vì vậy, mẹ tôi- bà Huỳnh Thị T1 đã có Đơn phản tố mà một trong những yêu cầu phản tố là đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Thứ hai, tại Đơn khởi kiện, nguyên đơn cho rằng mình được sự đồng ý của cụ N để nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” nhưng tại Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” do Cục sở hữu trí tuệ cung cấp theo yêu cầu của Tòa ản thì không có văn bản nào thể hiện việc cụ N chuyển giao quyền đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” cho nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng cụ N chuyển giao quyền đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” cho nguyên đơn là không có căn cứ.

Thứ ba, việc nguyên đơn nộp đơn đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” là không phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, tại thời điểm nguyên đơn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” năm 2015 thì cụ Phùng N vẫn còn sống và đang hành nghề tại Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng do cụ N sáng lập tại địa chỉ C H, quận T, thành phố Đà Nẵng từ những năm 1980. Do đó, việc nguyên đơn nộp đơn và được cấp Văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu Phùng Nồng là không đúng quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Bởi lẽ, nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” mà nguyên đơn đăng ký không đáp ứng điều kiện đối với nhãn hiệu được bảo hộ do không có khả năng phân biệt với hàng hóa, dịch vụ mà cụ Phùng N đang cung cấp, đồng thời cũng trùng với tên thương mại, hàng hóa, dịch vụ của Phòng chấn trị y học cổ truyền Phùng Nồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 72; Điểm k, Khoản 2 Điều 74; Khoản 2 Điều 78 Luật Sở hữu trí tuệ.

Từ những nội dung trên, tôi không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, kính đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng bác các yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận các yêu cầu phản tố của bị đơn để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Cục Sở hữu trí tuệ gửi văn bản cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án:

1. Thông tin về tình trạng bảo hộ của nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”

Ông Phùng Văn T2; địa chỉ: H L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; là chủ sở hữu nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” bảo hộ theo GCNĐKNH số 277115 (nộp ngày 15-4-2015, cấp ngày 07-3-2017, có hiệu lực đến 15-4-2025) cho các sản phẩm "Dược phẩm; thảo dược; thuốc xoa bóp; dược thảo; rễ cây thuốc; chất bổ sung dinh dưỡng" thuộc nhóm 05. Kể từ ngày được cấp GCNĐKNH, ông Phùng Văn T2 được quyền sử dụng nhãn hiệu nêu trên trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

2. Cung cấp ý kiến chuyên môn theo đề nghị của Tòa án

- Về khả năng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” được bảo hộ theo GCN ĐKNH số 277115.

Xét các mẫu ảnh chụp sản phẩm gửi kèm theo công văn do Q Cơ quan cung cấp, Cục Sở hữu trí tuệ nhận thấy dấu hiệu “PHÙNG NỒNG” được gắn trên sản phẩm trùng với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” được bảo hộ theo GCN ĐKNH số 277115. Do vậy, Theo quy định của tại khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi sản xuất, buôn bán, lưu thông để bán các sản phẩm dược phẩm mang dấu hiệu “PHÙNG NỒNG” mà không được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” đã được bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115.

Tuy nhiên, nếu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại “Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng” được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp trước ngày nộp đơn của nhãn hiệu "PHÙNG NỒNG" thì việc sử dụng tên thương mại này được coi là không xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” bảo hộ theo GCNĐKNH số 277115.

- Theo quy định tại Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 26 và 30 Bộ luật Tố tụng dân sự, nếu có các bằng chứng, chứng cứ xác đáng, Bà Huỳnh Thị T1 có thể yêu cầu Tòa án hủy bỏ hiệu lực GCN ĐKNH số 277115.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Sở Y tế thành phố Đ gửi văn bản cho Toà án trong quá trình giải quyết vụ án:

Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27-9-2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sô điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh và Thông tư số 41/2011/TT - BYT ngày 14-11-2011 của Bộ trưởng Bộ Y hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp Giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

1. Năm 2013, Sở Y đã tiếp nhận Hồ sơ đề nghị cấp mới giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của ông Phùng Văn T2 và đã cấp Giấy phép hoạt động số 0193/SYT-GPHĐ ngày 26-3-2013 cho Phòng chẩn trị YHCT tư nhân Phùng Nồng:

2. Năm 2014, Sở Y đã tiếp nhận Hồ sơ đề nghị cấp mới Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cụ Phùng N và đã cấp Giấy phép hoạt động số 0417/SYT-GPHĐ ngày 25-3-2014 cho Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng.

3. Năm 2016, Sở Y đã tiếp nhận Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động khi thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng của bà Huỳnh Thị T1 (hồ sơ có nộp lại bản gốc Giấy phép hoạt động số 0417/SYT-GPHĐ ngày 25-3-2014 do Sở Y cấp) và đã cấp Giấy phép hoạt động số 0417/SYT-GPHĐ ngày 28-10-2016 cho Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng.

Kèm theo văn bản trả lời là hồ sơ cấp các Giấy phép hoạt động nói trên.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng nay là Ủy ban nhân dân phường X, thành phố Đà Nẵng gửi văn bản cho Toà án trong quá trình giải quyết vụ án là:

1. Đề nghị Tòa án trên cơ sở yêu cầu của người khởi kiện, hồ sơ, tài liệu có liên quan tiến hành họp, kiểm tra chứng cứ và xét xử theo trình tự, thủ tục quy định. Trên cơ sở bản án có hiệu lực pháp luật, Ủy ban nhân dân quận T sẽ tổ chức thi hành các phần việc có liên quan (nếu có).

2. Về người tham gia tố tụng: Ủy ban nhân dân quận T xin được vắng mặt tại phiên đối thoại, phiên họp công khai chứng cứ, phiên xét xử và đề nghị Tòa án xem xét, xử lý theo thủ tục vắng mặt.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 22/8/2025, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 30; Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 và các Điều 147, 217, 218, 219, 227, 228, 235, 244, 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 87, 92, 93, 105, 110, 114, 117, 118 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009; các Điều 123, 125, 198, 202, 203 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

I. Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng đối với bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 về các nội dung:

1. Buộc bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 phải chấm dứt hành vi xâm phạm nhãn hiệu và tên thương mại “PHÙNG NỒNG” thuộc lĩnh vực “Khám chữa bệnh”.

2. Kiến nghị Phòng Tài chính - Kế hoạch của quận T, thành phố Đà Nẵng thu hồi và điều chỉnh tên trên Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh bằng cách xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” ra khỏi tên hộ kinh doanh, tên giao dịch, tên viết tắt của bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1.

3. Buộc bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 xin lỗi, cải chính công khai 03 lần liên tiếp trên B1 và báo địa phương tại thành phố Đà Nẵng vì đã có hành vi xâm phạm và sử dụng nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” ngay khi Bản án, Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

II. Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 đối với ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng về nội dung:

Tuyên nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” là di sản của cụ Phùng N.

Ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng và bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đối với các nội dung đã đình chỉ nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

III. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng đối với bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 về các nội dung:

1. Buộc bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 phải chấm dứt hành vi xâm phạm nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”; chấm dứt hành vi xâm phạm tên thương mại “PHÙNG NỒNG” đối với các sản phẩm thuộc nhóm 5: “Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng” đã được bảo hộ tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ Giấy chứng nhận ông Phùng Văn T2 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017.

2. Buộc bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 phải thu hồi, hủy bỏ các bao gói, nhãn hiệu, tài liệu, tờ rơi, biển hiệu, mọi quảng cáo chào hàng trên môi trường internet,… có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG” đối với các sản phẩm thuộc nhóm 5: “Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng” đã được bảo hộ tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ Giấy chứng nhận ông Phùng Văn T2 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017.

3. Kiến nghị Sở Y tế thành phố Đ thu hồi và điều chỉnh, xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” trên Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0417/SYT-GPHĐ ngày 28-10-2016 đã cấp cho “Phòng chẩn trị Y học cổ truyền Phùng Nồng” của Lương Y Huỳnh Thị T1 đối với các sản phẩm thuộc nhóm 5: “Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng” đã được bảo hộ tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ Giấy chứng nhận ông Phùng Văn T2 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017.

IV. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 đối với ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng về nội dung:

Hủy Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ Giấy chứng nhận ông Phùng Văn T2 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017.

V. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

1. Ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng không phải chịu.

Hoàn trả cho ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001336 ngày 13-12-2023 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

2. Bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 phải chịu nhưng được miễn án phí.

Hoàn trả cho Bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001403 ngày 04-3-2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Bị đơn bà Huỳnh Thị T1 kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện cho bị đơn bà Huỳnh Thị T1 giữ nguyên kháng cáo.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết quả hỏi, tranh tụng công khai tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Nguyên đơn ông Phùng Văn T2 - Hộ kinh doanh Phòng chẩn trị YHCT Tư nhân Phùng Nồng trình bày ông T2 là con trai của Lương y Phùng Nồng, đã sinh sống và làm việc cùng cụ Phùng N tại nhà ở địa chỉ C H từ nhỏ. Tuy cụ Phùng N có nhiều con, nhưng chỉ ông T2 theo học nghề của cha, được cha đào tạo ngay từ nhỏ để nối nghiệp. Cụ Phùng N biết rằng sau khi cụ N chết, căn nhà 356 H không thuộc sở hữu của riêng ông T2 nên cụ N đã khuyến khích ông T2 mở riêng cơ sở kinh doanh để sau này giữ thương hiệu “PHÙNG NỒNG” cho gia đình. Vì vậy, ông T2 đã mở cơ sở riêng của mình mang thương hiệu “PHÙNG NỒNG” tại đường N năm 2006 đến năm 2012 thì chuyển về nhà của ông T2 tại địa chỉ H L, quận T, được UBND quận T cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và Sở Y tế thành phố Đ cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Quá trình ông T2 kinh doanh với thương hiệu “PHÙNG NỒNG” được cụ Phùng N thường xuyên qua lại, ủng hộ, giúp đỡ. Ngày 15-4-2015 ông T2 nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, đến ngày 07-3-2017, Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 cho ông T2 với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”. Từ giữa năm 2022, ông T2 nhận thấy nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” bị bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 xâm phạm nên, ông T2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết 6 vấn đề: 1. Buộc bị đơn bà T1 chấm dứt hành vi xâm phạm nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”; 2. Buộc các bị đơn chấm dứt hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại “PHÙNG NỒNG” và phải tiến hành đổi tên trên Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh tại Phòng Tài chính; 3. Kiến nghị Phòng Tài chính - Kế hoạch quận T là nơi các bị đơn đăng ký Hộ kinh doanh bằng cách xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” ra khỏi tên hộ kinh doanh, tên giao dịch, tên viết tắt của các bị đơn; 4. Kiến nghị Sở Y tế thành phố Đ thu hồi và điều chỉnh tên trên Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bị đơn bằng cách xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” ra khỏi tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; 5. Buộc bị đơn thu hồi và hủy bỏ các bao gói, nhãn hiệu các sản phẩm như dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, được thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng ... có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG”, và tiêu hủy toàn bộ bao gói, giấy tờ, tài liệu, tờ rơi, biển hiệu có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG”, đồng thời tháo dỡ mọi quảng cáo chào hàng trên môi trường internet có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG”; 6. Buộc bị đơn phải xin lỗi, cải chính công khai ngay khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, phải xin lỗi, cải chính 03 lần liên tiếp trên B1 và báo địa phương tại thành phố Đà Nẵng vì đã có hành vi xâm phạm và sử dụng nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn, rút một phần yêu cầu khởi kiện (Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết), chỉ còn yêu cầu giải quyết 3 vấn đề: 1. Buộc bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 phải chấm dứt hành vi xâm phạm nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”; chấm dứt hành vi xâm phạm tên thương mại “PHÙNG NỒNG” đối với các sản phẩm thuộc nhóm 5: “Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng” đã được bảo hộ tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ Giấy chứng nhận ông Phùng Văn T2 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017; 2. Buộc bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 phải thu hồi, hủy bỏ các bao gói, nhãn hiệu, tài liệu, tờ rơi, biển hiệu, mọi quảng cáo chào hàng trên môi trường internet,… có chứa dấu hiệu chữ “PHÙNG NỒNG” đối với các sản phẩm thuộc nhóm 5: “Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng” đã được bảo hộ tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ Giấy chứng nhận ông Phùng Văn T2 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017; 3. Kiến nghị Sở Y tế thành phố Đ thu hồi và điều chỉnh, xóa bỏ dấu hiệu tên “PHÙNG NỒNG” trên Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0417/SYT-GPHĐ ngày 28-10-2016 đã cấp cho “Phòng chẩn trị Y học cổ truyền Phùng Nồng” của Lương Y Huỳnh Thị T1 đối với các sản phẩm thuộc nhóm 5: “Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng” đã được bảo hộ tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 của Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ Giấy chứng nhận ông Phùng Văn T2 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017.

Bị đơn bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” là họ tên khai sinh của cha chồng bà là cụ Phùng N. Cụ Phùng N là người sáng lập và thực hiện việc khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại Phòng chẩn trị y học cổ truyền P, địa chỉ C H, quận T, thành phố Đà Nẵng từ những năm 1980 của thế kỷ trước tới khi cụ qua đời năm 2016. Sau khi cụ N chết, để kế thừa hoạt động của phòng khám, bà T1 thực hiện việc thay đổi Đăng ký kinh doanh cho cơ sở và đã được cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh, Giấy phép hoạt động theo quy định của pháp luật. Hiện tại, phòng khám do cháu nội đích tôn của cụ Phùng N là ông Phùng Huỳnh Bá phụ T3 chính. Như vậy, nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” đã được sử dụng từ trước thời điểm ông Phùng Văn T2 đăng ký nhãn hiệu và tiếp tục được duy trì tới thời điểm hiện tại. Tại thời điểm nguyên đơn nộp đơn xin cấp nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” thì cụ Phùng N vẫn còn sống và đang hành nghề nên nhãn hiệu nguyên đơn đăng ký không có khả năng phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của cụ Phùng N và trùng với tên thương mại, hàng hóa, dịch vụ của Phòng chẩn trị y học cổ truyền Phùng Nồng. Ông T2 cho rằng mình được sự đồng ý của cụ Phùng N để nộp đơn đăng ký nhãn hiệu nhưng lại không có tài liệu để chứng minh, cho thấy ông T2 đã tự ý nộp đơn đăng ký nhãn hiệu. Cục sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 ngày 07-3-2017 cho nguyên đơn là trái với quy định của pháp luật. Vì vậy, bị đơn đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa giải quyết 2 yêu cầu: 1. hủy Quyết định của Cục S trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu số 277115 ngày 27-4-2017 đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”; 2. Tuyên bố nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” là di sản của cụ Phùng N.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn rút yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án “Tuyên bố nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” là di sản của cụ Phùng N” (Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết), bị đơn chỉ còn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án hủy Quyết định của Cục S trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu số 277115 ngày 27-4-2017 đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG”.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn, thấy:

Về quan hệ của các đương sự trong vụ án: ông Phùng Văn T2 là con ruột của cụ Phùng N, bà Huỳnh Thị T1 là con dâu của cụ Phùng N, anh Phùng Huỳnh B là con ruột bà T1, cháu cụ Phùng N.

Về tình trạng hoạt động kinh doanh: Ông Phùng Văn T2 được Sở Y tế cấp Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh số 000147/ĐNA-CCHN ngày 05-6-2012; được Ủy ban nhân dân quận T cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh cá thể ngày 11-4-2012 với tên hộ kinh doanh là “Phòng chẩn trị YHCT tư nhân Phùng Nồng”; được Sở Y tế cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề ngày 21-8-2006, cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0193/SYT-GPHĐ ngày 26-3-2013 với tên cơ sở khám chữa bệnh là “Phòng chẩn trị YHCT tư nhân Phùng Nồng”. Bà Huỳnh Thị T1 được Sở Y tế cấp Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh số 001679/ĐNA-CCHN ngày 15-3-2013; được Ủy ban nhân dân quận T cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh cá thể ngày 28-7-2016 với tên hộ kinh doanh là “Huỳnh Thị T1”; được Sở Y tế cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0417/SYT-GPHĐ ngày 28-10-2016 với tên cơ sở khám chữa bệnh là “Phòng chẩn trị Y học cổ truyền Phùng Nồng”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, thẩm định tại chỗ thấy ông Phùng Văn T2 đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại địa chỉ H L, quận T, thành phố Đà Nẵng; treo biển hiệu là “Phòng chuẩn trị Y học cổ truyền Phùng Nồng”; bà Huỳnh Thị T1 và anh Phùng Huỳnh B đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại địa chỉ C H, quận T, thành phố Đà Nẵng, treo biển hiệu “Phòng chẩn trị YHCT Phùng Nồng”. Nhãn tên các sản phẩm cả hai bên đang kinh doanh, phát hành ra thị trường đều có tên “PHÙNG NỒNG”. Đối với cụ Phùng N được Uỷ ban nhân dân huyện, quận T cấp Giáy phép cơ sở kinh doanh “Lương y đa khoa Phùng Nồng” lần đầu vào ngày 30-11-1999; được Sở Y tế cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề ngày 18-6-2010, Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh số 000316/ĐNA-CCHN ngày 21-7-2012; được Sở Y tế cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0417/SYT-GPHĐ ngày 25-3-2014 với tên cơ sở khám chữa bệnh là “Phòng chẩn trị Y học cổ truyền Phùng Nồng”, địa chỉ C H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Qua các tài liệu về Chứng chỉ, Giấy phép mà Sở Y tế thành phố Đ cung cấp thấy tên thương mại “PHÙNG NỒNG” lần đầu tiên là do cụ Phùng N sử dụng, được cơ quan quản lý nhà nước cấp ngày 30-11-1999. Đến ngày 11-4-2012, con trai cụ Phùng N là ông Phùng Văn T2 đăng ký Hộ kinh doanh cá thể với tên hộ kinh doanh là “Phòng chẩn trị YHCT tư nhân Phùng Nồng”. Sau khi cụ Phùng N qua đời năm 2016 thì bà Huỳnh Thị T1 đăng ký Hộ kinh doanh cá thể với tên hộ kinh doanh là “Huỳnh Thị T1”. Như vậy, ngay từ khi cụ Phùng N còn sống và hành nghề thì ông Phùng Văn T2 cũng đã hành nghề khám, chữa bệnh, treo biển hiệu cũng với tên “PHÙNG NỒNG” tại địa điểm kinh doanh cách địa điểm cụ Phùng N hoạt động chỉ khoảng 500m (qua xem xét thực tế). Đến ngày 15-4-2015 ông T2 tiến hành thực hiện các thủ tục để được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017, thì cụ Phùng N cũng như không có bất kỳ ai có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì. Cụ Phùng N và ông Phùng Văn T2 có quan hệ cha con nên việc ông T2 được sử dụng tên “PHÙNG NỒNG” như lời khai của ông T2 là có căn cứ. Ông T2 thực hiện mọi thủ tục luật định để được bảo hộ nhãn hiệu còn cụ Phùng N thì không. Sau khi cụ Phùng N qua đời thì bà Huỳnh Thị T1 mới đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận hộ kinh doanh cá thể và cấp lại Giấy phép hoạt động tại địa điểm cụ N đã hành nghề. Mọi Chứng chỉ, Giấy phép của ông T2 đều được cấp trước bà T1, kể cả Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

Xét tính có căn cứ, hợp pháp của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017 của Cục S trí tuệ cấp, thấy:

Về nội dung thì như đã nhận định ở trên về lịch sử, quá trình ra đời và sử dụng tên thương mại “PHÙNG NỒNG” là của cụ Phùng N. Ông Phùng Văn T2 là con cụ N sử dụng tên “PHÙNG NỒNG” để hoạt động khám, chữa bệnh và thực hiện các thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu mà không bị N hay bất kỳ người nào ngăn cấm, cản trở. Trong vụ án này, đối tượng ông Phùng Văn T2 khởi kiện là bà Huỳnh Thị T1 chứ không phải cụ Phùng N. Việc bà T1 được quyền sở hữu, sử dụng bất động sản tại C H, quận T, thành phố Đà Nẵng không đồng nghĩa với việc bà T1 được cụ N để lại tên cơ sở kinh doanh “PHÙNG NỒNG”, các thủ tục để được cấp lại Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh số 0417/SYT-GPHĐ ngày 28-10-2016 chỉ là hành vi đơn phương của bà T1. Do đó, việc bà T1 cho rằng bà đang hoạt động khám, chữa bệnh tại địa điểm cụ Phùng N đã từng hoạt động nên ông T2 đăng ký bảo hộ nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” trái pháp luật, là không có căn cứ.

Về trình tự, thủ tục: ông Phùng Văn T2 nộp đơn cho Cục S vào ngày 15-4-2015 để đăng ký nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” với phần mô tả gồm phần hình là tạo hình của biểu tượng âm dương, bên trên có dòng chữ “PHÙNG NỒNG” màu đỏ. Ngày 20-5-2015, Cục S trí tuệ ra quyết định chấp nhận đơn hợp lệ đối với chủ đơn Phùng Văn T2. Đến ngày 17-11-2016, Cục ra Thông báo về kết quả thẩm định nội dung cho ông T2 với nội dung nhãn hiệu không được bảo hộ phần hình. Ngày 07-3-2017, ông T2 được Cục S trí tuệ cấp Quyết định về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 và được đăng bạ quốc gia nhãn hiệu hàng hoá; danh mục hàng hoá/ dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ là Nhóm 5: “Dược phẩm, thảo dược, thuốc xoa bóp, dược thảo, rễ cây thuốc, chất bổ sung dinh dưỡng”. Như vậy, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 được thực hiện theo đúng các Điều 87, 105, 110, 114, 117, 118 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 về hình thức, nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu, về thủ tục thẩm định và cấp phép. Thời hạn của Văn bằng bảo hộ này có hiệu lực 10 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký và có thể được gia hạn theo quy định tại các Điều 92, 93 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017 của Cục S trí tuệ cấp tại thời điểm Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ văn bản pháp luật này để xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Như vậy, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 277115 theo Quyết định số 13761/QĐ-SHTT ngày 07-3-2017 của Cục Sở hữu trí tuệ là có nội dung và hình thức hoàn toàn đúng pháp luật.

Khi có phát sinh tranh chấp về sở hữu trí tuệ thì Toà án áp dụng pháp luật hiện hành là Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 để làm căn cứ xem xét, giải quyết các quyền của chủ sở hữu, quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các Điều 123, 125, 198. Trong trường hợp vụ án này, ông Phùng Văn T2 đã được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” trên phạm vi toàn quốc. Bà Huỳnh Thị T1 hoạt động khám, chữa bệnh với cùng nhãn hiệu “PHÙNG NỒNG” mà chưa được sự cho phép của ông T2 là có vi phạm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ, đúng pháp luật nên cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Huỳnh Thị T1 kháng cáo không được chấp nhận, nhưng là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: bà Huỳnh Thị T1 - Hộ kinh doanh Huỳnh Thị T1 được miễn.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ