vanban.org

Bản án 01/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Gia V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, sửa đổi 2017. Xử phạt bị cáo Trần Gia V 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thôøi haïn tuø tính töø ngaøy baét ñi thi haønh aùn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Gia V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Gia V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 01/2026/HSST
Ngày: 06 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hòa và bà Phạm Thị Thơm

-Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Phi Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Gia V, sinh năm 1982, tại Nam Đ (Nay là Ninh B); Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Buôn O, xã Đắk D, huyện Krông N, tỉnh Đắk N (Nay là Buôn O, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ); nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Gia C (đã chết) và bà Phạm Thị L, sinh năm 1952; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại - có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1954; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.

Người làm chứng:

1/ Ông Cầm Văn B, sinh năm 1976; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.

2/ Chị H D, sinh năm 1992; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.

3/ Chị H Ngọc Ê, sinh năm 2001; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.

4/ Chị Cầm Thị H T, sinh ngày 28/11/2014; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của chị Tt: Ông Cầm Văn B, sinh năm 1976; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.

5/ Anh Y Hiệp N, sinh ngày 19/6/2009; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Y Hiệp N: Ông Y T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - là cha của anh Y Hiệp N - vắng mặt.

6/ Anh Y N, sinh ngày 06/8/2008; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ

- vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Y N: Ông Y H; Địa chỉ: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ - là cha của anh Y N - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 07/02/2024 (tức ngày 28/12/2023 âm lịch), Y T (tên gọi khác Ma S; sinh năm 1983; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) gọi điện thoại cho H Ngọc Ê B (sinh năm 2001; trú tại: Buôn K; xã Krông N; tỉnh Lâm Đ) và Y N (sinh năm 2008; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) về việc Y T bị ngã ở khu vực bờ đập K, xã Đắk D, huyện Krông N, tỉnh Đắk N (nay là buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) nhờ H Ngọc Ê B và Y N chở về nhà. Sau cuộc gọi trên H Ngọc Ê B gọi điện cho Nguyễn Văn T (sinh năm 1989; cùng trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) kể sự việc Y T nhậu say ngã ở đập K62 và nhờ chở về cùng. T đồng ý và nói với H D (là vợ T; sinh năm 1992; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) việc Y T nhậu say té ở đập. T dắt xe ra ngoài sân còn H D đi bộ qua nhà của Cầm Văn B (sinh năm: 1976; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đồ) kể sự việc trên. Sau đó, Tiến chở H D chạy theo hướng vào đập thuỷ lợi K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ. Vài phút sau H Ngọc Ê B dùng xe mô tô chở H Bích Ê B (Sinh năm 2001; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) chạy vào đập Buôn K62 trong lúc đi cả hai gặp T (người yêu của H Bích Ê B) đang điều khiển xe mô tô cùng chiều, lúc này H Ngọc Ê B xuống xe đi qua ngồi xe với T sau đó cả ba cùng đi vào hướng đập K62 để tìm Y T. Cùng lúc đó, Y N rủ và dùng xe máy chở Y Hiệp N (sinh năm: 2009; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) đến khu vực bờ đập K, xã Đắk D, huyện Krông N, tỉnh Đắk N (nay là buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) tìm Y T; ông B cũng rủ và dùng xe máy chở Cầm Thị H T (con gái ông B; sinh năm: 2014; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) đến khu vực bờ đập K, xã Đắk D, huyện Krông N, tỉnh Đắk N (nay là buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) tìm Y T.

Nguyễn Văn T chở H D đi tìm ở khu vực trên bờ đập không thấy nên chạy xuống chân đập hướng ra cổng chào K62 và gặp Y N chở Y H chạy xe đến. H D dừng lại hỏi chuyện liên quan đến việc tìm Y T. Lúc này, H Bích Ê B, H Ngọc Ê B và T cũng chạy xe đến. Sau khi nói chuyện, Tiến chở H D chạy về hướng trại vịt nhà ông Nguyễn Ngọc Đ (sinh năm: 1954; trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) ở gần bờ đập K62, những người còn lại chạy lên hướng đập K62 để tìm kiếm. Khi đi đến gần trại vịt ông Đ, T hú to còn H D gọi lớn “ma sâm ơi, ma sâm ơi”. Bên trong trại vịt có tiếng hú vọng ra, nghĩ là Y T nên Tiến dừng xe, T và H D đứng dưới đường gần vị trí lối đi ra của trại vịt chờ. Bên trong chòi vịt, Trần Gia V (sinh năm 1982; trú tại: Buôn O, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ) đang nằm ngủ, nghe tiếng ồn nên V đội đèn pin trên đầu, bước qua lán vịt lấy con dao rựa ở bao cám rồi cầm trên tay trái bước ra ngoài cổng trại vịt. Khi đi gần đến cổng, V tháo đèn pin từ trên đầu xuống cầm ở tay phải soi đèn vào mặt của T đồng thời mắng T vì gây tiếng ồn làm V khó ngủ. T nói lại nên xảy ra cãi nhau giữa T và V. Lúc này, ánh sáng đèn năng lượng dưới trại vịt chiếu nên Tiến nhận ra V vì trước đây thường xuyên gặp và đá bóng cùng với nhau. V cầm con dao rựa chạy lại chỗ T, T đi bộ một đoạn về hướng cổng chào K62 thấy H D quay lưng chạy về hướng đập K62 miệng nói: “nó cầm dao đấy anh, chạy đi”. T chạy ngược hướng với H D về cổng chào K62, V chạy đuổi phía sau T (cách tiến khoảng 03 mét). T vừa chạy vừa xoay đầu ngước nhìn ra phía sau, được khoảng 30 mét (ba mươi mét) thì bị vấp cành cây nên ngã với tư thế nghiêng người chống tay phải xuống mặt đường bê tông theo quán tính. T quay lưng lại, ngồi xổm, tay phải chống sau lưng, hướng mặt về V. Lúc này V chạy đến, phát hiện T bị ngã nên cầm dao chém một nhát hướng từ trên xuống dưới về phía người T (V không rõ tư thế ngã và tư thế ngồi của T, không nhắm vào vị trí cụ thể để chém) và trúng vào phần đỉnh đầu của Tiến. Thấy máu từ đỉnh đầu chảy xuống, Tiến nói: “tại sao mày chém tao”, V im lặng quay lưng bỏ đi về hướng trại vịt còn T quay lưng bỏ chạy ra cổng chào K62. Tiến chạy được khoảng 50 mét (năm mươi mét) theo hướng ra cổng chào K62 thì H D chạy đến. Lúc này, ông B chở H T từ ngoài cổng chào K62 chạy đến, được T và H D kể lại toàn bộ sự việc. Khoảng 05 phút sau Y N chở Y T và Y H ngồi phía sau, H Ngọc Ê B đi một mình, T chở H Bích Ê B hướng từ trong đập K62 đi đến. H Ngọc Ê B dừng xe lại, thấy trên đỉnh đầu Tiến chảy máu nên cởi áo khoác đang mặc bịt vào đầu cho Tiến rồi cùng H D lấy xe máy chở Tiến đi xuống Trung tâm y tế huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông (nay là Trung tâm y tế khu vực Krông Nô, tỉnh Lâm Đồng) để cấp cứu.

Thấy ngoài cổng trại vịt ồn ào, V cầm dao bước ra ngoài đường và gặp ông Bảy cùng những người còn lại. Ông B nói to: “tại sao mày chém thằng T”, V nói: “tại nó làm mất giấc ngủ của tao”, hai bên xảy ra cãi nhau. Sẵn trên tay đang cầm dao rựa, Văn đưa dao lên chạy lại chỗ ông B quơ chém nhưng không trúng nên bỏ chạy về trại vịt. Ông B bực tức vì bị đuổi chém nên quay lại, chạy theo V, lượm cành cây keo dưới đường, cầm và đuổi theo V. Khi đến gần lán vịt, Văn thấy ông B đuổi tới đã dừng lại, ông B cầm cây keo đánh một cái theo hướng từ trên xuống dưới về phía người Văn, Văn đưa tay trái lên đỡ thì cành cây đánh trúng vào tay của Văn làm cho con dao trên tay V đang cầm rớt xuống đất. V nhặt con dao này, chạy vào trong trại vịt ông Đ rồi bỏ chạy ra hướng bờ ao. Ông B đi lại gần, nhìn vào chòi vịt (nơi V hay nằm để trông vịt) không thấy V nên dùng tay đẩy lán vịt xuống ao. Khoảng 10 phút sau, V thấy im lặng đã đi vào nằm trên võng trong lán vịt. Sau đó lực lượng Công an xã Đắk Drô có mặt lập biên bản mời những người liên quan về công an xã làm việc theo quy định.

Quá trình điều tra, Trần Gia V đã thừa nhận hành vi dùng dao (rựa) chém Nguyễn Văn T vào tối ngày 07/02/2024 tại buôn K62, xã Krông Nô, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên V khai báo một số tình tiết còn mâu thuẫn với những người khác, cụ thể: Sau khi chém T xong và quay về trại vịt ông Đ thì V lên giường nằm nghỉ. Khi đang nằm, ở bên ngoài có người hỏi vào: “có phải ông nuôi vịt không”. V trả lời: “dạ đúng rồi các anh có gì không” rồi ở ngoài nói: “cho tôi xin bao cám”, V nói “tôi làm thuê không có quyền cho các anh thông cảm”. Sau đó, V thấy ba người nhảy vào trong lán vịt đấm đá V (lán vịt không có bất kì đồ vật chiếu sáng nào). V chạy ra ngoài thì ông B cầm cây đập vào tay V. V đưa tay trái lên đỡ và hỏi “sao anh đánh gãy tay em”. Ông B bảo “tao đánh cho mày chết”, đồng thời ông B cầm cây đánh vào lưng của V nên V chạy ra bờ suối trốn. Sau đó khoảng 05 phút, thấy im ắng nên V về trại vịt thì thấy lán trại lật xuống dưới hồ. V lên võng cạnh bao cám để ngồi thì thấy Công an xã vào làm việc, sau đó đưa V lên trụ sở Công an xã làm việc rồi đưa đi trung tâm y tế huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông (nay là trung tâm y tế khu vực Krông Nô, tỉnh Lâm Đồng).

Vật chứng:

- 01 (một) con dao, loại dao rựa, dài 94,7cm, cán dài 69,3cm, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại dài 25,6cm, phần rộng nhất của lưỡi 4,5cm.

- 01 (một) cành cây đã khô dài 268cm, đường kính gốc 5,2cm, đường kính ngọn 2,5cm, trên cành cây có nhiều cành nhỏ chỉa ra ngoài, nhánh dài nhất 33cm bị cháy xém, một số chỗ vỏ cây đã bị lột.

Kết quả trưng cầu giám định:

Ngày 16/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã trưng cầu Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Nông giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Văn T. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 132/KLTTCT-TTPY ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả giám định:

+ Lún cả hai bản xương sọ đỉnh phải, kích thước hoặc đường kính dưới 03cm, điện não không có ổ tổn thương tương ứng, tỷ lệ 16%.

+ 01 sẹo phần mềm vùng đỉnh phải, kích thước trung bình, tỷ lệ 02%.

- Kết quả khám chuyên khoa: Không.

- Kết quả cận lâm sàng:

+ Điện não đồ: Hội chứng suy nhược sau chấn thương.

+ CT-Scanner sọ não: hình ảnh lún sọ mảnh rời vào trong hộp sọ đỉnh phải, kích thước khoảng 14mm; hiện tại không thấy máu tụ nội sọ trên phim.

- Kết quả khác: Không.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là: 18% (mười tám phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác: Tổn thương vùng đỉnh phải của Nguyễn Văn T do bị vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Ngày 16/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô đã trưng cầu Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Nông giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Trần Gia V. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 161/KLTTCT-TTPY ngày 03/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Gia V tại thời điểm giám định là: 09% (chín phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Tổn thương vùng cẳng tay trái của anh Trần Gia V do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

+ Không có căn cứ để xác định các vết sưng bầm, sây sát thành ngực, vùng lưng; sây sát da vùng mặt, cổ tay phải, gối trái, cẳng chân phải, vai trái; lung lay răng R21, R22 của anh Trần Gia V là do vật gì gây nên.

Căn cứ yêu cầu xác minh vụ việc, ngày 17/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại TP. Đà Nẵng giám định AND trên con dao được Công an xã Đắk Drô thu giữ vào tối ngày 07/02/2024. Tại bản kết luận giám định số 1025/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP. Đà Nẵng kết luận:

- Trên cán dao có AND, máu của Trần Gia V, không phát hiện thấy AND, máu của Nguyễn Văn T.

- Trên lưỡi dao có AND, máu của Nguyễn Văn T và của một người nam giới khác, không phát hiện thấy AND, máu của Trần Gia V.

Ngày 23/06/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông trưng cầu bổ sung số: A376/QĐ-VPCQCSĐT giám định AND trên con dao được thu giữ vào tối ngày 07/02/2024. Tại bản kết luận giám định số: 1054/KL-KTHS ngày 16/7/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP. Đà Nẵng kết luận:

- ADN và máu trên lưỡi dao có kiểu gen (ADN) lưu hồ sơ theo Kết luận giám định số: 1025/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP. Đà Nẵng không phải là của Y T, Hoàng Văn D, Cầm Văn B, Y Hiệp N, Y N và Nguyễn Ngọc Đ. Vị trí dấu vết máu nằm trên bề mặt lưỡi dao.

Ngày 17/06/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của H D và Trần Gia V. Tại bản kết luận số: 266/KL-KTHS ngày 23/06/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:

- Chữ ký, chữ viết mang tên H D trên tài liệu cần giám định (01 biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đề ngày 07/02/2024 và 01 biên bản hướng dẫn kê khai thông tin về tin báo tố giác tội phạm qua ứng dụng VNEID đề ngày 07/02/2024) so với chữ ký, chữ viết của H D trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người ký, viết ra.

- Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Gia V trên tài liệu cần giám định (01 đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự không đề ngày tháng năm) so với chữ ký, chữ viết của Trần Gia V trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra.

- Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Gia V trên tài liệu cần giám định (01 đơn tố giác tội phạm đề ngày 15/02/2024) so với chữ ký, chữ viết của Trần Gia V trên tài liệu mẫu so sánh chữ ký khác dạng nên không tiến hành giám định.

Ngày 06/06/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông chuyển công văn số: A32/VPCQCSĐT đến Trung tâm pháp y Đắk Nông đề nghị giải thích kết luận giám định liên quan đến bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 132/KLTTCT-TTPY, ngày 25/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đăk Nông, cụ thể:

- Chiều hướng các vết thương trên cơ thể của Nguyễn Văn T; cơ chế, chiều hướng tác động của vật gây thương tích để gây nên các thương tích trên?

- Với các thương tích của Nguyễn Văn T, nếu không được cấp cứu kịp thời có nguy hiểm đến tính mạng, có khả năng dẫn đến Nguyễn Văn T tử vong hay không?

Tại Công văn số 28/CV-TTPY ngày 14/7/2025 của Trung tâm pháp y Đắk Nông, tỉnh Lâm Đồng trả lời như sau:

- Đối với vết thương đỉnh phải của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định đã liền sẹo nên không có căn cứ để xác định chiều hướng hình thành vết thương. Còn về cơ chế hình thành thương tích đã trả lời trong phần Kết luận khác tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 132/KLTTCT-TTPY, ngày 25/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông với thương tích của Nguyễn Văn T nếu không được xử lý và điều trị kịp thời có khả năng dẫn tới các biến chứng nặng hơn.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKS-KV9 ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Gia V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Gia V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Gia V từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thôøi haïn tuø tính töø ngaøy baét ñi thi haønh aùn.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại 01 (một) con dao (có đặc điểm như trên) cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc Đ (sinh năm 1954, trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ).

+ Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) cành cây đã khô (có đặc điểm như trên).

Về trách nhiệm dân sự:

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo Trần Gia V đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T số tiền 22.800.000đ (Hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) và tại phiên tòa hôm nay anh T không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông tuy có một vài sai sót trong việc làm rõ quá trình truy tìm và thu giữ vật chứng là 01 con dao trong vụ án, nhưng sau đó Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đăk Nông cũng đã làm việc với các thành phần có tên trong biên bản như ông Hoàng Văn P, Nông Đức T, Y Doan B, Cầm Văn B, công an viên thôn (Hoàng Mạnh D, Nguyễn Văn H) và Phó bí thư Đoàn thanh niên chị H D xác định quá trình truy tìm và thu giữ vật chứng (con dao rựa) vào ngày 07/2/2025 và tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận con dao Công an xã Đăk Drô thu giữ là con dao bị cáo sử dụng để chém anh T do đó có thể sử dụng làm vật chứng của vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai của bị cáo có sự khác nhau giữa các giai đoạn tố tụng. Cụ thể, tại giai đoạn điều tra ban đầu bị cáo chưa thừa nhận đầy đủ hành vi phạm tội; tại các lần hỏi cung bổ sung và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận rõ hành vi dùng dao rựa chém anh Nguyễn Văn T gây thương tích. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa được thực hiện công khai, trực tiếp trước Hội đồng xét xử, bị cáo xác nhận việc khai báo là tự nguyện, không bị ép cung, mớm cung; lời khai này phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận giám định pháp y về tỷ lệ tổn thương cơ thể và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ sử dụng lời khai của bị cáo tại phiên tòa làm một trong những căn cứ đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời đánh giá vụ án trên cơ sở tổng hợp toàn bộ chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Đã có đủ cơ sở kết luận mặc dù không có mâu thuẫn từ trước, nhưng vào khoảng 21 giờ ngày 07/02/2024 tại Buôn K62, xã Đắk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông (Nay là Buôn K62, xã Krông Nô, tỉnh Lâm Đồng), bị cáo Trần Gia V đã dùng tay trái cầm 01 (một) con dao rựa chém một phát theo hướng từ trên xuống, bị cáo không nhắm vào vị trí cụ thể để chém, trong điều kiện trời tối, không có đèn đường, chỉ có ánh đèn năng lượng từ lán vịt và đã trúng vào đỉnh đầu bên phải của anh Nguyễn Văn T, gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể cho anh T là 18% (Mười tám phần trăm).

Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước, chỉ vì bực tức bị hại gây ra tiếng ồn làm mất giấc ngủ mà bị cáo đã sử dụng con dao rựa chém bị hại nên bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm. Và mặc dù bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm và gây thương tích tại vùng đầu của bị hại, tuy nhiên xét thấy bị cáo chỉ thực hiện một nhát chém, không tiếp tục tấn công, hậu quả thương tích được xác định là 18%, không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện bị cáo có ý thức chủ quan nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại. Do đó, không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo về tội Giết người.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân và gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải thấy được rằng quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Bất kỳ một hành vi xâm phạm trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích, làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe của người bị hại. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác.

Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Trần Gia V phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

i) Có tính chất côn đồ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) ...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

...”

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại anh Nguyễn Văn T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) con dao, loại dao rựa, dài 94,7cm, cán dài 69,3cm, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại dài 25,6cm, phần rộng nhất của lưỡi 4,5cm là của ông Nguyễn Ngọc Đ (sinh năm 1954, trú tại: Buôn K, xã Krông N, tỉnh Lâm Đ), ông Đ không biết bị cáo sử dụng con dao vào mục đích phạm tội nên cần trả lại con dao trên cho ông Đ.

- Đối 01 (một) cành cây đã khô dài 268cm, đường kính gốc 5,2cm, đường kính ngọn 2,5cm, trên cành cây có nhiều cành nhỏ chỉa ra ngoài, nhánh dài nhất 33cm bị cháy xém, một số chỗ vỏ cây đã bị lột cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trần Gia V đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T 22.800.000 đồng và tại phiên tòa anh T không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Những vấn đề khác của vụ án:

Đối với Cầm Văn B có hành vi dùng cây keo đánh gây thương tích cho Trần Gia V với tỷ lệ tổn thương cơ thể 09% (chín phần trăm). Mặc dù B dùng đoạn cây cứng là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho V, hành vi của B đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên vào ngày 17/06/2024 bị cáo Trần Gia V đã tự nguyện làm đơn không yêu cầu khởi tố đối với B. Căn cứ điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự thì không có căn cứ xử lý hình sự đối với B. Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô đã chuyển cho Công an huyện Krông Nô ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Cầm Văn B về hành vi gây thương tích cho Trần Gia Văn là đúng quy định pháp luật.

Đối với việc Trần Gia V khai mâu thuẫn với các lời khai của những người khác (B, H T, Y N, Y H) về việc V không chủ động cầm dao ra cãi nhau và đánh nhau với B mà khi đang ở trong lán thì bị một số người (không rõ là ai) đấm đá vào người. Khi V đi ra khỏi lán mới bị B cầm cây đánh. Tình tiết mâu thuẫn này là mâu thuẫn trong việc xem xét xử lý hành vi vi phạm hành chính đối với B, không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và cũng không ảnh hưởng đến việc xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với người khác và cũng không có căn cứ để làm rõ vì các vết bầm tím trên người V (gây ra vào đêm ngày 07/02/2024) có thể do bị đánh, cũng có thể do V va đập vào vật nào khác trong quá trình bỏ chạy. Bản thân V không thấy mặt cũng không biết ai là người gây ra nên không có căn cứ xử lý đối với người khác.

Đối với việc ông B trình bày lại có bị V chém sượt trúng làm trầy xước nhưng không bị thương, do trước đây lời khai của ông B đều thể hiện không bị chém trúng, không có bị thương, kết quả giám định lưỡi dao không có vết máu, ADN của ông B do đó việc ông B trình bày lại về tình tiết trên là không có cơ sở và không có căn cứ xử lý.

Đối với Kết luận giám định số 1025/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Trên lưỡi dao gửi giám định, có mẫu ADN của anh Tiến và của một người đàn ông khác”, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định bổ sung để làm rõ tuy nhiên không xác định được vết máu, ADN đó là của ai (không phải của ông B, không phải của những người có mặt khác). Trong vụ án chỉ có anh T là người bị thương nên việc xác định có vết máu, ADN của anh T trên lưỡi dao đã đủ căn cứ xử lý vụ án. Đối với việc còn ADN của người khác trên lưỡi dao hay không (trừ đối với ông B, đã thực hiện giám định bổ sung) là không cần thiết vì không liên quan vụ án, không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, đề nghị khung hình phạt do Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra là phù hợp so với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Gia V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, sửa đổi 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Gia V 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thôøi haïn tuø tính töø ngaøy baét ñi thi haønh aùn.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại 01 (một) con dao, loại dao rựa, dài 94,7cm, cán dài 69,3cm, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại dài 25,6cm, phần rộng nhất của lưỡi 4,5cm cho ông Nguyễn Ngọc Đ là chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cành cây đã khô dài 268cm, đường kính gốc 5,2cm, đường kính ngọn 2,5cm, trên cành cây có nhiều cành nhỏ chỉa ra ngoài, nhánh dài nhất 33cm bị cháy xém, một số chỗ vỏ cây

(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Krông Nô với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô ngày 16/10/2024).

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Gia V đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T 22.800.000 đồng và tại phiên tòa anh T không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Gia V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Gia V và bị hại anh Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ