- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mơ Diệm/Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mơ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁNNHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2026/HS-ST Ngày 09-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quốc Huy.
Bà Trần Thị Thùy Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hướng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
MƠ D, sinh ngày 14/5/2004, tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châm P và bà Mơ Thị P1; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/10/2025, đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam N - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh K.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lâm Thế N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. (Có mặt)
- Bị hại: Anh Lộ Phú T, sinh năm 1998. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa.
- Người làm chứng:
1/ Ông Trượng B, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn R, xã M, tỉnh Khánh Hòa.
2/ Anh Mấu Văn N1, sinh năm 2007. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn S, xã C, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 04/6/2025, Mơ D đón xe khách đến nhà bạn là PôPôn Thị L chơi. Khoảng 21 giờ cùng ngày, D nhờ anh Mấu Văn N1 chở D từ nhà chị L ở xã T về xã N, tỉnh Khánh Hòa. Nguyên chở D đến khu vực thôn R, xã M, tỉnh Khánh Hòa thì N1 nói xe sắp hết xăng và dừng xe lại cho D xuống tự đi bộ về. Sau đó, D đi bộ trên đường T theo hướng về xã N, đến đoạn đường trước nhà ông Trượng B vẫn thuộc thôn R, lúc này khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, D nhìn thấy 02 chiếc xe mô tô dựng trước nhà ông B, có sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp 01 chiếc xe để làm phương tiện đi về, rồi D lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 85D1-601.45 của anh Lộ Phú T đang ngồi chơi trong nhà ông B, D ngồi lên xe nổ máy điều khiển chạy về khu vực chuồng bò nơi gia đình D đang chăn bò thuê cho ông Nguyễn Phúc T1 thuộc thôn T, xã N, tỉnh Khánh Hòa cất giấu. Sáng ngày hôm sau 05/6/2025, lực lượng Công an phát hiện chiếc xe Diệm cất giấu và làm việc với D, D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện B, tỉnh Ninh Thuận (cũ) kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 85D1-601.45, nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER FI, màu sơn đen, số máy E3S1E13860, số khung 1340LY100697, đã qua sử dụng trị giá 9.150.000 đồng. (Bút lục 49)
Cáo trạng số: 08/CT-VKS-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa truy tố bị cáo Mơ D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mơ D đã thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mơ D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mơ D từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lộ Phú T đã nhận lại chiếc xe bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Vật chứng của vụ án: Tạm giữ, sau đó trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 85D1-601.45 cho chủ sở hữu anh Lộ Phú T.
Người bào chữa cho bị cáo Mơ D: Ông Lâm Thế N cũng đồng quan điểm với Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa. Hành vi của bị cáo Mơ D bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất. Ngoài ra, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở thôn T, xã A là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã làm đơn xin miễn nộp tiền án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Không ai có ý kiến tranh luận gì thêm với Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an nay là tỉnh Khánh Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát khu vực 7 - Khánh Hòa, Kiểm sát viên; Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 04/6/2025, Mơ Diệm đi bộ trên đường T để về nhà. Đến đoạn đường thôn R, xã P, huyện B (nay là thôn R, xã M, tỉnh Khánh Hòa), Mơ Diệm thấy hai chiếc xe mô tô dựng trước nhà ông Trượng B, có sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi nên đã lén lút vào lấy một chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, Jupiter FI, biển số 85D1-601.45 của anh Lộ Phú T đang dựng trước nhà ông B để làm phương tiện về nhà.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 85D1-601.45, nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER FI, màu sơn đen, số máy E3S1E13860, số khung 1340LY100697, đã qua sử dụng trị giá 9.150.000 đồng.
Do đó Cáo trạng số: 08/CT-VKS-HS ngày 01/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa truy tố bị cáo Mơ D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Mơ D cố tình vắng mặt tại nơi cư trú gây khó khăn cho quá trình điều tra nên Công an tỉnh K đã ra Quyết định truy tìm người. Ngày 05/10/2025, Mợ D1 bị bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam ngày 05/8/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa và người bào chữa cho bị cáo cùng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lộ Phú T đã nhận lại chiếc xe mô tô bị mất trộm và không yêu cầu gì nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, đã giao trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 85D1-601.45 cho anh Lộ Phú T.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở thôn T, xã A, tỉnh Khánh Hòa là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã làm đơn xin miễn nộp tiền án phí. Bị cáo Mơ D được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Mơ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Mơ D 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (05/10/2025).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mơ D.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - VKSND khu vực 7 - Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phân trại tạm giam Ninh Sơn - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Khánh Hòa; - CQCSĐT Công an tỉnh Khánh Hòa; - PV06 Công an tỉnh Khánh Hòa; - PC10 Công an tỉnh Khánh Hòa; - Phòng THADS khu vực 7 - Khánh Hòa; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Đồng |