- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Bé Gi.
- Căn cứ chính? luật phá sản và luật hoà giải; luật tố tụng hành chính; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST Ngày: 05-01-2026 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trang Thị Cẩm Nhuần.
Bà Huỳnh Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Lư Thái Duy, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2025/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Bé Gi, sinh năm 1992 (Có đơn xin vắng mặt);
Căn cước công dân số: xxxx.xxxx.xxxx; nơi thường trú: Ấp Cây D, xã Hùng H, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Kim Ngh, sinh năm 1987 (Vắng mặt không có lý do);
Nơi thường trú: Ấp Hòa Th, xã Hùng H, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 28/7/2025 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Thạch Thị Bé Gi trình bày có nội dung:
Chị Gi xác lập quan hệ vợ chồng với anh Kim Ngh, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hùng H, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã Hùng Hòa, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 27/5/2011.
Trong quá trình chung sống có con chung là Kim Hào K, sinh ngày 05/11/2014, hiện đang sống chung với chị, Kim Hòa N, sinh ngày 04/01/2012 hiện đang sống chung với anh Ngh. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Kim Hào K và không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con, chị Gi đồng ý giao con chung Kim Hòa N, sinh ngày 04/01/2012 cho anh Ngh nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng sống chung nhau không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, trong cuộc sống xảy ra nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh Ngh nên chị yêu cầu được ly hôn.
- Tại bản tự khai ngày 12/11/2025 cháu Kim Hào K trình bày: Cháu là con của bà Thạch Thị Bé Gi và ông Kim Ngh, nay cha, mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ là bà Giang.
- Tại bản tự khai ngày 12/11/2025 cháu Kim Hòa N trình bày: Cháu là con của bà Thạch Thị Bé Gi và ông Kim Ngh, nay cha, mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống chung với cha là anh Ngh.
- Bị đơn anh Kim Ngh vắng mặt không có lời trình bày.
Đối với bị đơn anh Ngh đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ nhưng anh Ngh không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa xét xử, nên Tòa án không lấy lời khai của bị đơn được và bị đơn cũng không nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gì để phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Gi.
Vì vậy Tòa án không kết luận được những vấn đề mà các đương sự đã thống nhất và không thống nhất.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thạch Thị Bé Gi được ly hôn với anh Kim Ngh; về con chung: Giao cháu Kim Hào K, sinh ngày 05/11/2014 cho chị Gi tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Kim Hòa N, sinh ngày 04/01/2012 cho anh Ngh tiếp tục nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Thạch Thị Bé Gi có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt đúng theo quy định, bị đơn anh Kim Ngh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Gi xác lập quan hệ hôn nhân với anh Ngh và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hùng H, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (nay là Ủy ban nhân dân xã Hùng Hòa, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 27/5/2011 đúng theo quy định của pháp luật, cho nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Theo chị Gi trình bày thì trong thời gian sinh sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng sống chung không hòa hợp tính tình, đồng thời vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng đến nhau. Chị và anh Ngh đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay mỗi người sống một nơi mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Ngh đến giải quyết vụ án nhưng anh Ngh cố tình vắng mặt không có lý do, đáng lẽ ra anh muốn hàn gắn tình cảm với chị Gi thì khi Tòa án triệu tập thì anh phải có mặt để trình bày nguyện vọng của mình để Tòa án xem xét, nhưng ngược lại anh bỏ mặc, không quan tâm đến việc giải quyết vụ án thể hiện ý chí của anh xem thường, không chấp hành yêu cầu của Tòa án cũng như không quan tâm đến việc hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này với chị Gi. Ngoài ra theo biên bản xác minh ngày 10/11/2025 thể hiện chị Gi, anh Ngh trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn hai vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hôn nhân của chị Gi, anh Ngh đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Gi yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Cháu Kim Hào K, sinh ngày 05/11/2014, hiện do chị Gi đang nuôi dưỡng, cháu Kim Hòa N, sinh ngày 04/01/2012 hiện đang sống chung với anh Kim Ngh, chị Gi đồng ý giao cho anh Ngh tiếp tục nuôi dưỡng. Để đảm bảo cháu Kiệt, cháu N được tiếp tục phát triển về mọi mặt và cũng không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Kiệt, cháu N, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu Kiệt cho chị Gi được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Kiệt; giao cháu N cho anh Ngh được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Gi không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với anh Ngh thì không có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, khi nào anh Ngh có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về tài sản chung: Chị Gi khai không có, đối với anh Ngh thì không có ý kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Gi khai không có, đối với anh Ngh thì không có ý kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Về án phí: Chị Gi phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Ngh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hoà giải, đối thoại tại Toà án. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Bé Gi.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thạch Thị Bé Gi được ly hôn với anh Kim Ngh.
2. Về con chung: Giao cháu Kim Hào K, sinh ngày 05/11/2014, cho chị Thạch Thị Bé Gi được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao cháu Kim Hòa N, sinh ngày 04/01/2012 cho anh Kim Ngh được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thạch Thị Bé Gi không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung: Chị Thạch Thị Bé Gi khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về nợ chung: Chị Thạch Thị Bé Gi khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
6. Về án phí: Chị Thạch Thị Bé Gi phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004781, ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; chị Gi đã nộp đủ án phí.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 12 – Vĩnh Long; - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; - Phòng THADS khu vực 12 – Vĩnh Long; - Ủy ban nhân dân xã Hùng Hòa, tỉnh Vĩnh Long (chứng nhận kết hôn ngày 27/05/20211); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Hoa Lan |