- Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "Bà T đề nghị tòa án không công nhận là vợ chồng giữa bà với ông N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu không công nhận là vợ chồng của bà Hoàng Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST Ngày 05 - 01 - 2026 “V/v không công nhận là vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sáu.
Ông Y Míp Niê.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2025/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T. Sinh năm: 1980. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Ông Hoàng Văn N. Sinh năm: 1980. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 01/10/2025, tại các biên bản làm việc cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày:
Năm 2001 tôi và ông Hoàng Văn N cưới nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên chúng tôi không đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đến thời điểm hiện tại chúng tôi cũng chưa đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau này vợ chồng thường xuyên xích mích, mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi bới nhau, không có hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân.
Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nên xin Tòa án giải quyết không công nhận tôi với ông Hoàng Văn N là vợ chồng.
Về con chung: Bà Hoàng Thị T trình bày: Chúng tôi có 03 đứa con chung. Cháu Hoàng Thị L - sinh năm 2001, cháu Hoàng Thị L1 - sinh năm 2004 và cháu Hoàng Trung K - sinh năm 2006. Các cháu đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hoàng Văn N tại các biên bản làm việc và tại phiên tòa trình bày có nội dung như sau: Ông Hoàng Văn N thừa nhận lời trình bày của bà Hoàng Thị T về quan hệ hôn nhân, tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng, đồng thời đề nghị Tòa án không công nhận ông và bà Hoàng Thị T là vợ chồng.
Về con chung: Ông Hoàng Văn N trình bày: Chúng tôi có 03 đứa con chung. Cháu Hoàng Thị L - sinh năm 2001, cháu Hoàng Thị L1 - sinh năm 2004 và cháu Hoàng Trung K - sinh năm 2006. Các cháu đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hoàng Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát sau khi phát biểu ý kiến đã khẳng định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng dân sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Sau đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận bà Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn N là vợ chồng.
Về con chung: Các cháu đã trên 18 tuổi nên không đề cập để giải quyết
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1 ] Về thủ tục tố tụng: Vì bà Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn N không có đăng ký kết hôn, chỉ yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải về hôn nhân mà tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[ 2 ] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ đã thu thập, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001, có cưới hỏi theo phong tục nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung như vợ chồng được nữa nên bà Hoàng Thị T đã làm khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận bà và ông Hoàng Văn N là vợ chồng.
Như vậy, tranh chấp giữa bà Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn N là “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 8 Điều 28 BLTTDS, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn N sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001 cho đến nay, không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND có thẩm quyền là trái với quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Nay bà T có yêu cầu chấm dứt quan hệ như vợ chồng với ông N.
Xét tình cảm giữa bà T và ông N không còn và hai người cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của Pháp luật. Vì vậy HĐXX xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình để tuyên bố không công nhận bà T và ông N là vợ, chồng.
Về con chung: Bà T và ông N có 03 đứa con chung là cháu Hoàng Thị L - sinh năm 2001, cháu Hoàng Thị L1 - sinh năm 2004 và cháu Hoàng Trung K - sinh năm 2006. Xét thấy các con chung của ông, bà đã trên 18 tuổi nên Tòa án không đặt ra để xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn N không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 8 Điều 28, Điều 147 và Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
2. Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu không công nhận là vợ chồng của bà Hoàng Thị T.
Tuyên bố bà Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn N không phải là vợ chồng.
3. Về con chung: Các con trên 18 tuổi nên không đặt ra để xem xét
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
5. Về án phí: Bà Hoàng thị T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Đắk Lắk theo biên lai số: 0001708 ngày 08/10/2025
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND KV 10; - Phòng THADS KV 10; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ, Vp. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Phạm Minh Thuấn |