- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H tranh chấp hợp đồng tín dụng Công ty B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/KDTM-ST Ngày: 07-01-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phê
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bé Em
Ông Lê Anh Giàu
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương – Thư ký Tòa án
Ngày 07 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 27/2024/TLST-KDTM ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-KDTM ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 294/2024/QĐST-KDTM ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H.
Địa chỉ: số B Bis N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quốc T, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H chi nhánh T2.
Địa chỉ: số I đường Ấ, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Công C, sinh năm 1986. Địa chỉ: số B đường Ấ, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3.
Địa chỉ: số G ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre;
Người đại diện theo pháp luật: ông Quách Xuân T1, chức vụ: Giám đốc.
(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Công C trình bày:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã ký kết hợp đồng vay vốn với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố H số tiền vay 1.700.000.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng số 25490/20MN/HĐTD ngày 16/10/2020. Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 theo khế ước nhận nợ số 25490/20MN/HĐTD/KUNN ngày 16/10/2020, ngày đến hạn 16/10/2025, lãi suất 11,97%/năm, số tiền giải ngân 1.700.000.000 đồng. Lãi suất cho vay được quy định trong khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả được quy định trong hợp đồng tín dụng số 25490/20MN/HĐTD/KUNN ngày 16/10/2020. Mục đích cho vay thanh toán tiền mua ô tô tãi HINNO - FL8JW7A thùng lắp cẩu + Thùng lửng lắp cẩu, cặp chassi, PTO (cóc cầu) + Cần cầu thủy lực theo HĐ số 049/05/20/BT –HĐMB – HINO.
Để đảm bảo cho khoản vay thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã ký kết hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải số 23558/20MN/HĐBĐ ngày 16/10/2020 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố H – Chi nhánh T2; tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định là xe ô tô HINO – FL8JW7A, số khung: 8JW7LXX10707, số máy: J08EWD11553, biển kiểm soát: 71H-001.69 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020176 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 15/10/2020.
Thực hiện hợp đồng Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã trả nợ cho Ngân hàng số nợ gốc 1.067.224.721 đồng, đến ngày 27/11/2023 phát sinh nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng phía Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã không thanh toán nợ đúng hạn nên phát sinh tranh chấp.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 trả số tiền nợ tính đến ngày 06/01/2025 với số tiền 703.115.203 đồng, trong đó số tiền gốc là 604.474.279 đồng; lãi trong hạn là 65.327.699 đồng; lãi quá hạn là 33.312.225 đồng. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 07/01/2025 theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho cho đến khi trả xong nợ.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tòan bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp số 23558/20MN/HĐBĐ ngày 16/10/2020 đối với tài sản thế chấp là xe ô tô HINO – FL8JW7A, số khung: 8JW7LXX10707, số máy: J08EWD11553, biển kiểm soát: 71H-001.69 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020176 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 15/10/2020.
Đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Quách Xuân T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Ông Quách Xuân T1 là người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Quách Xuân T1 vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Quách Xuân T1.
Về nội dung: Xét hợp đồng tín dụng số 25490/20MN/HĐTD ngày 16/10/2020 và khế ước nhận nợ số 25490/20MN/HĐTD/KUNN ngày 16/10/2020 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hình thức và nội dung hợp đồng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật các Tổ chức tín dụng; Căn cứ theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp thì người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 là ông Quách Xuân T1 - chức vụ giám đốc nên ông Quách Xuân T1 đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 ký kết Hợp đồng tín dụng là người có thẩm quyền; Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 vay vốn nhằm mục đích thanh toán tiền mua ô tô tãi HINNO - FL8JW7A thùng lắp cẩu + Thùng lửng lắp cẩu, cặp chassi, PTO (cóc cầu) + Cần cầu thủy lực theo HĐ số 049/05/20/BT –HĐMB –HINO; Đồng thời căn cứ khế ước nhận nợ số 25490/20MN/HĐTD/KUNN ngày 16/10/2020 thì số tiền đã được giải ngân là 1.700.000.000 đồng.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn đều vắng mặt, tuy nhiên bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ bản sao tài liệu chứng cứ là căn cứ khởi kiện nguyên đơn; Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do; người đại diện theo pháp luật của bị đơn cũng không có ý kiến phản đối gì đối với chứng cứ và yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.
Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H khởi kiện yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 trả nợ với số tiền 703.115.203 đồng, trong đó số tiền gốc là 604.474.279 đồng; lãi trong hạn là 65.327.699 đồng; lãi quá hạn là 33.312.225 đồng. Đồng thời yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 tiếp tục trả lãi, lãi phạt theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết từ ngày 07/01/2025 cho đến ngày thanh toán toàn bộ khoản vay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về các hợp đồng thế chấp:
Để đảm bảo cho khoản vay trên, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã ký hợp đồng thế chấp, theo hợp đồng thế chấp số 23558/20MN/HĐBĐ ngày 16/10/2020 đối với tài sản thế chấp là xe ô tô HINO – FL8JW7A, số khung: 8JW7LXX10707, số máy: J08EWD11553, biển kiểm soát: 71H-001.69 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020176 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 15/10/2020.
Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng thế chấp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 đã được người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 và Ngân hàng là người có đủ năng lực hành vi dân sự, đã tự nguyện thỏa thuận ký kết hợp đồng với nhau và hợp đồng được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định tất cả hợp đồng thế chấp mà các bên đã tự nguyện ký kết là đúng với quy định pháp luật nên hợp đồng thế chấp trên phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm.
Để đảm bảo quyền lợi cho bên cho vay, trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tất cả các tài sản đã thế chấp theo tất hợp đồng thế chấp đã ký kết đảm bảo để thu hồi nợ, tương ứng với số tiền bị đơn có nghĩa vụ phải trả.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 20.000.000 đồng + (4% x 303.115.203 đồng) = 32.124.608 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, 35, 147 và Điều 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền 703.115.203 (Bảy trăm lẽ ba triệu, một trăm mười lăm nghìn, hai trăm lẽ ba) đồng, trong đó số tiền gốc là: 604.474.279 đồng; lãi trong hạn là: 65.327.699 đồng; lãi quá hạn là: 33.312.225 đồng.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 07/01/2025 cho đến khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 trả tất các khoản nợ vay nguyên đơn.
Trong trường hợp, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay nêu trên hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay nêu trên không đầy đủ cho nguyên đơn thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mãi tất cả các tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 23558/20MN/HĐBĐ ngày 16/10/2020 đối với tài sản thế chấp là xe ô tô HINO – FL8JW7A, số khung: 8JW7LXX10707, số máy: J08EWD11553, biển kiểm soát: 71H-001.69 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020176 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 15/10/2020 để đảm bảo thu hồi nợ.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 phải nộp là 32.124.608 (Ba mươi hai triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm lẽ tám) đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H được Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 15.671.000 (Mười lăm triệu, sáu trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng theo biên lai số 0005179 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Bến Tre.
3.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS TP Bến Tre; - VKSND Thành phố Bến Tre; - - Các đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Phê |