vanban.org

Bản án 01/2025/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 đối với Công ty TNHH Một thành viên H về việc thanh toán tiền vay còn nợ và xử lý tài sản thế chấp.

Buộc Công ty TNHH Một thành viên H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 tổng số tiền 621.522.853 đồng (sáu trăm hai mươi mốt triệu năm trăm hai mươi hai nghìn tám trăm năm mươi ba đồng) (trong đó, nợ gốc 409.944.450 đồng (bốn trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi bố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP T3 - Công ty TNHH MTV H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 đối với Công ty TNHH Một thành viên H về việc thanh toán tiền vay còn nợ và xử lý tài sản thế chấp.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/KDTM-ST
Ngày: 05 - 5 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Vĩnh

2. Bà Kim Thị Sà Mết

- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Diệu Như, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 356/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3. Trụ sở: Tòa nhà T4, số E, Phố L, Phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T, ông Đỗ Duy T1, ông Lê Nhất T2. Địa chỉ: Lầu D, C Hậu Giang, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Công ty TNHH Một Thành Viên H. Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, ấp P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Người đại diện: Ông Phạm Huy L; chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 trình bày:

Ngày 25 tháng 8 năm 2020, giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 (sau đây gọi là Ngân hàng) với Công ty TNHH Một thành viên H (sau đây gọi là Công ty H) có ký kết Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 325/2020/HDTD/CTO/01 với nội dung: Ngân hàng cho Công ty H vay số tiền 628.000.000 đồng, mục đích vay là thanh toán tiền mua xe ô tô; thời hạn vay 72 tháng kể từ ngày 25/8/2020; lãi suất kể từ ngày nhận nợ cho đến ngày 25/8/2021 là 8,9%/năm; lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 25/8/2026 được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn; Công ty H đã nhận đủ tiền vay theo khế ước giải ngân và nhận nợ ngày 25/8/2020. Đến ngày 25/9/2020, giữa Ngân hàng với Công ty H ký Văn bản sửa đổi, bổ sung đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ với nội dung sửa đổi là ngày đến hạn trả nợ cuối cùng 25/8/2026; kỳ hạn trả nợ lãi 01 tháng/lần vào ngày 26; lãi suất cho vay kể từ ngày nhận nợ đầu tiên đến ngày 25/8/2021 là 9,4%/năm; lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần. Để đảm bảo khoản vay, Công ty H thế chấp cho Ngân hàng là chiếc xe ô tô con theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013164 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 24/8/2020. Xe ô tô nhãn hiệu: NISSAN, số loại: TERRA S, màu xe: Trắng, số khung: AD23Z0008008, số máy: YD25856645T, biển kiểm soát: 94A-055.37.

Quá trình vay vốn, Công ty H chưa thanh toán gốc, lãi theo thỏa thuận cho Ngân hàng, vi phạm nghĩa vụ kể từ kỳ 26/10/2022. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Công ty H thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/5/2025 là 621.522.853 đồng (trong đó, vốn gốc là 409.944.450 đồng, lãi trong hạn là 11.129.518 đồng, lãi quá hạn 200.448.885 đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 05/5/2025 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo mức lãi suất hợp đồng. Trường hợp Công ty H thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp.

Bị đơn Công ty TNHH Một thành viên H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa nhưng đại diện hợp pháp Công ty TNHH Một thành viên H không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3. Buộc Công ty H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 05/5/2025 là 621.522.853 đồng (trong đó, vốn gốc là 409.944.450 đồng, lãi trong hạn là 11.129.518 đồng, lãi quá hạn 200.448.885 đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 05/5/2025 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo mức lãi suất hợp đồng. Trường hợp Công ty H thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, số loại TERRA S, màu trắng, số khung AD23Z0008008, số máy YD25856645T, biển kiểm soát 94A-055.37, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013164 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 24/8/2020. Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chiu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã triệu tập đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; bị đơn Công ty TNHH Một thành viên H hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt; còn đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Một thành viên H vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 khởi kiện yêu cầu Công ty H trả tiền vay theo hợp đồng đã ký kết. Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn cung cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Một thành viên H nên thỏa mãn về điều kiện chủ thể trong quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại. Do đó, cần xác định lại đây là vụ án kinh doanh, thương mại với quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã thông báo thụ lý, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập Công ty TNHH Một thành viên H để làm việc và tham gia phiên tòa nhưng đại diện hợp pháp của Công ty H không đến Tòa án làm việc cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng cung cấp và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án.

Đối với yêu cầu trả tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 325/2020/HDTD/CTO/01 ngày 25/8/2020:

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng cung cấp Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 325/2020/HDTD/CTO/01 ngày 25/8/2020; Khế ước giải ngân và nhận nợ ngày 25/8/2020 và Văn bản sửa đổi, bổ sung đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ. Ngân hàng xác định, Công ty H vay của Ngân hàng số tiền 628.000.000 đồng và đã nhận đủ số tiền vay trên vào ngày 25/8/2020. Sau khi vay, Công ty H không thanh toán cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã tiến hành đòi và làm việc. Xét thấy, Hợp đồng tín dụng trên được ký kết giữa bên cho vay là Ngân hàng với bên vay là Công ty H. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định giữa Ngân hàng với Công ty H có ký kết hợp đồng tín dụng nêu trên và phía Công ty H đã nhận đủ số tiền vay.

Theo nội dung hợp đồng ngày 25/8/2020 thể hiện Công ty H vay số tiền 628.000.000 đồng, mục đích vay là thanh toán tiền mua xe ô tô; thời hạn vay 72 tháng kể từ ngày 25/8/2020; lãi suất kể từ ngày nhận nợ cho đến ngày 25/8/2021 là 8,9%/năm; lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 25/8/2026 được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần. Tại Văn bản sửa đổi, bổ sung đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ với nội dung sửa đổi là ngày đến hạn trả nợ cuối cùng 25/8/2026; kỳ hạn trả nợ lãi 01 tháng/lần vào ngày 26; lãi suất cho vay kể từ ngày nhận nợ đầu tiên đến ngày 25/8/2021 là 9,4%/năm; lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần. Thời hạn trả lãi vay hàng tháng vào ngày 26. Tại Điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô được dẫn chiếu trong hợp đồng ngày 25/8/2020 thể hiện lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn; lãi suất chậm trả bằng 10%/năm. Do Công ty H không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty H thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 05/5/2025 là 621.522.853 đồng (trong đó, vốn gốc là 409.944.450 đồng, lãi trong hạn là 11.129.518 đồng, lãi quá hạn 200.448.885 đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 05/5/2025 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo mức lãi suất hợp đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 280, Điều 351, Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 325/2020/HDTD/CTO/01 ngày 25/8/2020: Xét Hợp đồng thế giữa Ngân hàng với Công ty H được các bên ký kết, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tài sản thế chấp nhưng không tiến hành được do bị đơn không cung cấp tài sản thẩm định. Tại Công văn số 71 ngày 28/4/2025 của Công an xã L thể hiện: Qua tra cứu trên phần mềm hệ thống đăng ký xe, và đối chiếu hồ sơ lưu tại đơn vị xe ô tô 94A-055.37 hiện tại do C1 LIỆU. Địa chỉ: 1 ấp P, L, V, Bạc Liêu đứng tên chủ sở hữu. Đến thời điểm hiện tại Công an xã L chưa có tiếp nhận hồ sơ làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu cho cá nhân hay tổ chức khác đối với xe ô tô mang biển số 94A-055.37. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, trường hợp Công ty H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, số loại TERRA S, màu trắng, số khung AD23Z0008008, số máy YD25856645T, biển kiểm soát 94A-055.37, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013164 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 24/8/2020 cho C1 LIỆU theo quy định khoản 1 Điều 317, khoản 6 Điều 320, khoản 5 và khoản 7 Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 850.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty H phải chịu toàn bộ theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngân hàng đã nộp 850.000 đồng, đã chi hết. Do đó, Công ty H có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 850.000 đồng.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do có căn cứ chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền nợ nên Ngân hàng không phải chịu. Công ty H phải chịu 28.860.914 đồng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các Điều 280, Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 323, Điều 351, Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 đối với Công ty TNHH Một thành viên H về việc thanh toán tiền vay còn nợ và xử lý tài sản thế chấp.

2. Buộc Công ty TNHH Một thành viên H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 tổng số tiền 621.522.853 đồng (sáu trăm hai mươi mốt triệu năm trăm hai mươi hai nghìn tám trăm năm mươi ba đồng) (trong đó, nợ gốc 409.944.450 đồng (bốn trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi đồng), lãi trong hạn 11.129.518 đồng (mười một triệu một trăm hai mươi chín nghìn năm trăm mười tám đồng), lãi quá hạn 200.448.885 đồng (hai trăm triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm tám mươi lăm đồng)).

3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05/5/2025), Công ty TNHH Một thành viên H còn phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 theo mức lãi suất được quy định theo hợp đồng đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 thì lãi suất mà Công ty TNHH Một thành viên H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng T3.

4. Trường hợp Công ty TNHH Một thành viên H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, số loại TERRA S, màu trắng, số khung AD23Z0008008, số máy YD25856645T, biển kiểm soát 94A-055.37, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013164 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 24/8/2020 cho C1 LIỆU.

5. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng). Buộc Công ty TNHH Một thành viên H có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 số tiền 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng).

6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Buộc Công ty TNHH Một thành viên H phải nộp 28.860.914 đồng (hai mươi tám triệu tám trăm sáu mươi nghìn chín trăm mười bốn đồng).

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 đã nộp số tiền 12.791.000 đồng (mười hai triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0004451 ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi được hoàn lại.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ