- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ văn Phan - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn P phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HSST Ngày 20 tháng 01 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đồng D
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh H – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/HSST ngày 13/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 14/01/2025 theo thủ tục rút gọn đối với:
1/ Bị cáo: Vũ Văn P. Tên gọi khác: Không
Sinh ngày: 28/10/2002; Giới tính: Nam.
Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: không. Trình độ học vấn: 12/12.
Họ tên bố: Vũ Văn P, sinh năm 1975. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1977. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/12/2024, đến ngày 31/12/2024 được áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Văn P, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
3/ Người làm chứng:
Chị Trương Thị Hoa L, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Anh Đặng Văn Q, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Đều trú tại: Đặng Đinh, Đặng Lễ, Ân Thi, Hưng
DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 27/12/2024, tại đường bê tông liên xã thôn Đặng Đinh, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi; Vũ Văn P đang có hành vi đang bê 01 thùng carton kích thước(34x48x37)cm bên trong có 05 vật hình hộp có cùng kích thước (15,5x15,5x14,4)cm bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc hoa văn cùng chữ nước ngoài, bên trong hộp đều cấu tạo có 36 lỗ hình tròn có khối lượng 7,60kg (Bảy phẩy sáu không kilôgam) đều là pháo nổ, loại: pháo hoa nổ thì bị phát hiện, bắt quả tang; thu giữ toàn bộ số pháo nổ cùng 01 chiếc xe ô tô biển số 89C-067.22, 01 thùng carton có kích thước (34x48x37)cm, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax bên trong lắp sim số 0961390170.
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Văn P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo mua pháo nổ để sử dụng của một người không biết tên và địa chỉ cụ thể, bị cáo không còn lưu giữ trên điện thoại cũng không nhớ tài khoản Zalo của người bán pháo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra Công an huyện Ân Thi thu thập được. Chiếc điện thoại bị thu giữ là của bị cáo sử dụng giao dịch mua pháo nổ, chiếc xe ô tô biển số 89C-067.22 là của ông Vũ Văn P (bố đẻ bị cáo), ông P không biết bị cáo lấy chiếc xe đi mua pháo.
Số pháo hoàn lại sau giám định quản lý tại Ban chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên. Các vật chứng còn lại của vụ án đang được quản lý tại kho vật chứng Công an huyện Ân Thi.
Đối với người bán pháo cho bị cáo P, nhưng do bị cáo khai không biết ở đâu chỉ biết tên Trung nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ- VKSAT ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Vũ Văn P về Tội tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị chủ tọa phiên tòa:
- Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên xử bị cáo Vũ Văn P phạm tội Tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS.
- Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm thời gian tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo” theo quy định tại khoản 5 Điều 65 BLHS.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật THAHS.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, công việc, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo
* Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- 01 hộp bìa carton bên trong chứa 6,00 kg pháo nổ hoàn lại sau giám định, được niêm phong ghi số: 480/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; 01 thùng bìa carton kích thước ( 34x48x37)cm mặt trước thùng có ghi chữ màu xanh DƯA HẤU NHÀ LONG AN CẦN THƠ CITY, 01 sim số 0961390170 lắp trong điện thoại Iphone 15 ProMax đây là mặt hàng nhà nước cấm lưu thông trên thị trường và vật không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe ô tô biển số 89C-067.22 chủ sở hữu hợp pháp là ông Vũ Văn P ( bố để bị cáo) không biết bị cáo lấy chiếc xe đi mua pháo nên trả lại cho ông P.
- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 15 ProMax là của bị cáo hiện được quản lý tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi là điện thoại của bị cáo P đã dùng để liên lạc mua pháo nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Tại phiên tòa bị cáo: Bị cáo có hái độ ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo được cải tạo địa phương để chăm lo cho bố, mẹ và tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Ý kiến của bà Nguyễn Thị T – mẹ đẻ bị cáo: Bố bị cáo là ông Vũ Văn P do bị ốm nên không đến tham gia phiên tòa được, đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông P, nguyện vọng của vợ chồng tôi mong muốn Tòa án cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và xin lại chiếc xe ô tô biển số 89C. 06722 để gia đình lấy phương tiện đi lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận thấy như sau:
I/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra công an huyện Ân Thi, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
II/ Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn P ®· thµnh khÈn khai nhận hành vi của mình như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ân Thi thu thập được như biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 36,37), bản tự khai/bản tường trình (BL 71,72,73,74), biên bản ghi lời khai ( từ BL 75 đến BL 82), lời khai của người làm chứng (BL 83 - 89), lời khai người có quyền lợi liên quan (BL 89-91), kết luận giám định (BL 34), đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 27/12/2024 tại đường bê tông liên xã thôn Đặng Đinh, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 05 hộp pháo hoa nổ, tại kết luận giám định số 480/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu vật gồm các vật hình hộp chữ nhật trong niêm phong ghi ký hiệu I, có tổng khối lượng: 7.60kg, bên trong các vật hộp chữ nhật có chứa thuốc pháo, là pháo, loại: Pháo nổ (pháo hoa nổ). Do vậy có đủ sơ sở kết luận Quyết định truy tố số 01/QĐ-VKSAT ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi và quan điểm kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Vũ Văn P về Tội tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
III/ Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý một số loại hàng cấm, pháo nổ là mặt hàng nguy hiểm mang tính sát thương cao và là loại hàng Nhà nước cấm buôn bán, lưu thông trên thị trường vì thời gian qua việc sử dụng pháo nổ đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, xã hội, gây tổn hại về sức khỏe, tiền bạc. Mặc dù bị cáo nhận thức rõ điều đó là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi Tàng trữ hàng cấm để thỏa mãn mục đích cá nhân, do đó đã chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh trước pháp luật nhằm mục đích trừng trị người phạm tội và để làm gương cho người khác.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Văn P phạm Tội tàng trữ hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt sẽ xem xét đến việc đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng. giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo theo đó: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định điểm i,s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của ủy ban nhân dân xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo cũng đã nhận ra sai lầm của mình ăn năn, hối cải, có ý thức sửa chữa, cải tạo, mặt khác gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ đẻ sức khỏe yếu, bị cáo là con trai duy nhất và là lao động chính trong gia đình, đồng thời xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Tòa án nhận thấy không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo được áp dụng hình phạt tù có điều kiện, giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng chống tội phạm nói chung.
IV/ Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
V/ Về vật chứng: 01 hộp bìa carton ghi số 480/Kl-KTHS bên trong có 6.00kg pháo, loại pháo nổ hoàn lại sau giám định là mặt hàng nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy (được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2025 giữa công an huyện Ân Thi với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên); 01 hộp bìa carton kích thước 34x48x37cm, sim số 0961390170 không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho ông Vũ Văn P, sinh năm 1975 trú tại Thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI biển số 89C-067.22 vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo (Có đặc điểm được thể hiện tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT công an huyện Ân Thi với Chi cục THADS huyện Ân Thi).
VI/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn P phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47, khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bán án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về vật chứng: 01 hộp bìa carton ghi số 480/Kl-KTHS bên trong có 6.00kg pháo, loại pháo nổ hoàn lại sau giám định là mặt hàng nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy (được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2025 giữa công an huyện Ân Thi với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên); 01 hộp bìa carton kích thước 34x48x37cm, sim số 0961390170 không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho ông Vũ Văn P, sinh năm 1975 trú tại Thôn Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI biển số 89C-067.22 vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo (Có đặc điểm được thể hiện tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT công an huyện Ân Thi với Chi cục THADS huyện Ân Thi).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - VKSND huyện và VKSND tỉnh; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Cơ quan CSĐT Công an huyện; - Chi cục THADS huyện Ân Thi; - Ban chỉ hủy QS tỉnh Hưng Yên; - Lưu HS; | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đồng D |