- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kim Lâm Hoàng Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Kim Lâm Hoàng Q 02 (Hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày: 03/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Hồng Bạch;
- Ông Lê Văn Khanh
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 359/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 470/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Kim Lâm Hoàng Q, sinh ngày: 29/9/1988, tại: tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: Số B đường B, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số B đường B, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Văn M, sinh năm 1966 và bà Lâm Thị L, sinh năm 1960; Vợ: Lê Kim T, sinh năm 1989, bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/5/2024. “Có mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lữ Ngọc Thùy V sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số B P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 03/5/2024, Kim Lâm Hoàng Q điều khiển xe mô tô biển số 79H1-902.79 đến đường H, phường A, quận B gặp người đàn ông (không rõ lai lịch) mua 03 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy để về sử dụng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, Q cất số ma túy trên vào trong túi quần bên phải phía trước của Q đang mặc rồi điều khiển xe qua nhà bạn gái Lữ Ngọc Thùy V tại địa chỉ số B P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để cùng đi ăn tối. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi Q đang điều khiển xe mô tô biển số 79H1-902.79 chở V ngồi phía sau đến trước địa chỉ nhà số D, đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị tổ tuần tra Công an phường B, quận B phát hiện Q có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của Q đang mặc có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu. Qua giám định là chất ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine có khối lượng 0,2745g và loại Ketamine có khối lượng 0,0778g. Tổ tuần tra đưa Q cùng tang vật về trụ sở Công an phường B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó vụ việc được chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B giải quyết.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Kim Lâm Hoàng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Q khai nhận V không biết Quan tàng trữ ma túy để sử dụng. Quan không biết nhân thân lai lịch đối tượng bán ma túy cho Q. Lời khai của Q phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 5540/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2745g, loại Methamphetamine.
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,0778g, loại Ketamine.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
+ 03 gói nylon chứa tinh thể không màu qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,2745g loại Methamphetamine và 0,0778g loại Ketamine. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân chờ xử lý.
+ 01 xe mô tô biển số 79H1-902.79. Qua xác minh do chị Nguyễn Thị Mỹ D (thường trú: 439/62/4 đường H, phường A, quận B) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 03/5/2024, chị D cho Q mượn xe làm phương tiện đi lại nhưng không biết Q sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra Công an quận B đã giao trả xe cho chị D.
Cáo trạng số 296/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Kim Lâm Hoàng Q ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Kim Lâm Hoàng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến gì khác.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo Q, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị tuyên bố bị cáo Kim Lâm Hoàng Quan P vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Q với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng là tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ. Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp: không đề nghị xem xét.
Bị cáo Q không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi và các quyết định tố tụng: về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra - Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, tại trước địa chỉ nhà số D, đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Kim Lâm Hoàng Q cất giấu trong túi quần bên phải phía trước 03 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,2745g loại Methamphetamine và 0,0778g loại Ketamine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 5540/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2745g, loại Methamphetamine.
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,0778g, loại Ketamine.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,2745g, loại Methamphetamine và 0,0778g, loại Ketamine. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có căn cứ nên chấp nhận.
Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bất chấp pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác do đó cần xử lý với mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Q có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định ghi số vụ 5540/(1685/24) B. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Kim Lâm Hoàng Q, Nguyễn Tô Tuấn T1 (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T2 (điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và chữ ký của Giám định viên Lê Thị H và chữ ký của cán bộ điều tra Thái Thanh H1 (Bên trong có tinh thể không màu (m1) có khối lượng 0,1980 gam và tinh thể không màu (m2) có khối lượng 0,0210 gam). Hội đồng xét xử xét vật chứng trên là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với đối tượng bán ma túy cho Kim Lâm Hoàng Q hiện chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đang tiếp tục truy xét, khi nào có đủ cơ sở sẽ tiếp tục xử lý.
Đối với chị Nguyễn Thị Mỹ D cho Q mượn xe mô tô biển số 79H1-902.79 nhưng không biết Q sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B không xử lý.
Đối với chị Lữ Ngọc Thùy V không hùn tiền và không biết Q mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B không xử lý.
Về án phí: bị cáo Kim Lâm Hoàng Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Kim Lâm Hoàng Q 02 (Hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định ghi số vụ 5540/(1685/24) B. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Kim Lâm Hoàng Q, Nguyễn Tô Tuấn T1 (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc T2 (điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và chữ ký của Giám định viên Lê Thị H và chữ ký của cán bộ điều tra Thái Thanh H1 (Bên trong có tinh thể không màu (m1) có khối lượng 0,1980 gam và tinh thể không màu (m2) có khối lượng 0,0210 gam).
(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho số NK25/11TV ngày 14/10/2024).
3. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Kim Lâm Hoàng Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật .
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - VKSND Q. Bình Tân; - CQCSĐT Công an Q. Bình Tân; - CQ THAHS Công an Q. Bình Tân; - Phòng PV06- Công an TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS Q. Bình Tân; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Phước |