vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lý Văn S phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn S, Điều 178 - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST
Ngày 30 - 7 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lương Hữu San

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Nhâm

Ông Quan Văn Ngụ

- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Thị Thụy – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS, ngày 17/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS, ngày 17/7/2025 đối với bị cáo:

Lý Văn S, sinh ngày 06/7/1994 tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn K, xã T, tỉnh Tuyên Quang (địa chỉ cũ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang); dân tộc: H’Mông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lý Văn V (đã chết) và bà Lý Thị S, sinh năm 1958; vợ: Chưa có; con: có 01 con, sinh năm 2011 (con sinh ra trong thời kỳ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với chị Lý Thị H); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Anh Triệu Văn X, sinh năm 1992; trú tại: Thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang (địa chỉ cũ: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Lý Văn Tr, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn K, xã T, tỉnh Tuyên Quang (địa chỉ cũ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 02/2025, thông qua mạng xã hội Lý Văn S quen biết chị M (là người ở tỉnh Nghệ An, không biết họ và địa chỉ cụ thể). Ngày 15/02/2025, chị M một mình tìm đến chơi và ở lại nhà S, trong thời gian này giữa S và chị M phát sinh mâu thuẫn nên ngày 01/3/2025 chị M đã liên hệ thuê anh Triệu Văn X, sinh năm 1992, trú tại Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (làm nghề lái xe dịch vụ) chở đến huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn để bắt xe ô tô khách đi về quê. Khoảng 08 giờ cùng ngày, S thấy anh X điều khiển xe đến đón chị M thì S trực tiếp gặp anh X ngăn cản, nhưng do chị M không đồng ý ở lại nên vẫn thuê anh X chở đi. Khoảng 19 giờ cùng ngày, S đến nhà Lý Văn Tr, sinh năm 2001 (trú cùng thôn) ăn cơm, uống rượu. Tại đây S nói lại sự việc anh X không nghe lời S mà vẫn trở chị M đi cho Tr biết. Do bực tức nên S rủ Tr đi tìm anh X để đánh thì Tr đồng ý. S nhặt 01 đoạn gậy gỗ dài 77cm, đường kính 12cm phía ngoài cửa nhà Tr rồi điều khiển xe mô tô của mình chở Tr đi đến nhà anh X. Khoảng 20 giờ 48 phút cùng ngày, S và Tr đến nơi thấy gia đình anh X đã đóng cửa, tắt điện đi ngủ, Tr bỏ đi ra khỏi khu vực nhà anh X còn S cầm đoạn gậy gỗ mang theo đi bộ đến vị trí chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA – Innova, màu sơn bạc, biển số đăng ký 24A – 027.97 của anh X đỗ ở hiên trước nhà, S cầm gậy gỗ đứng cách khoảng 60cm dùng hai tay cầm gậy đập 02 phát liên tiếp hướng từ trên xuống, chếch từ phải qua trái làm kính chắn gió phía sau của xe ô tô bị vỡ và hư hỏng. Sau đó S vứt lại đoạn gậy ở đường và điều khiển xe mô tô đưa Tr về nhà rồi một mình điều khiển xe bỏ đi đến xã Công Bằng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn chơi. Anh X sau khi nghe tiếng đập phá đã dậy xem và kiểm tra camera an ninh của gia đình thì phát hiện S đập phá tài sản của gia đình anh nên đã gọi điện báo Công an xã T đến hiện trường để giải quyết vụ việc. Ngày 02/3/2025, Công an xã T đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS, ngày 12/3/2025 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang kết luận: Giá trị kính chắn gió phía sau, kích thước (1,46x0,49)m, kính dày 0,3cm của xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA – Innova, biển số 24A-027.97, sản xuất năm 2009 là 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng)

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã cho Lý Văn S nhận dạng hình ảnh người trong đoạn video clip trích xuất tại camera an ninh của gia đình anh Triệu Văn X đã cung cấp cho Cơ quan điều tra. S thừa nhận vào khoảng 20 giờ 48 phút, ngày 01/3/2025 S là người trong đoạn video clip và đã sử dụng gậy gỗ để đập kính chắn gió phía sau xe ô tô của anh Triệu Văn X.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSNH, ngày 17/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang) đã truy tố bị cáo Lý Văn S về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lý Văn S theo tội danh, điều luật đã nêu trong Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lý Văn S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều, 38, 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn S từ 07 (Bảy) tháng đến 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng. Giao bị cáo Lý Văn S cho UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gậy gỗ dài 77cm, đường kính 12cm đã qua sử dụng.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lý Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và phiên tòa, bị cáo Lý Văn S khai nhận: Tối ngày 01/3/2025, xuất phát từ sự bực tức vì không ngăn được anh Triệu Văn X sử dụng xe ô tô chở bạn gái của bị cáo tên là M sang tỉnh Bắc Kạn để bắt xe khách về quê nên bị cáo đã rủ Lý Văn Tr đi sang nhà anh Triệu Văn X để tìm đánh anh X. Khi đi, bị cáo có chuẩn bị 01 đoạn gậy gỗ nhằm mục đích để đánh anh X. Khi đến nơi thấy nhà anh X đã đi ngủ, không gặp được anh X nên anh Lý Văn Tr đi ra ngoài còn bị cáo cầm gậy gỗ chuẩn bị từ trước đập 02 nhát vào xe ô tô biển số 24A – 027.97 của anh X đỗ ở hiên trước nhà khiến xe ô tô của anh X bị vỡ và hư hỏng kính chắn gió phía sau, gây thiệt hại 2.900.000đ. Việc bị cáo dùng gậy đập vỡ kính chắn gió phía sau xe ô tô của anh Triệu Văn X là hành động bột phát chứ không có sự bàn bạc gì trước với anh Lý Văn Tr. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã chủ động và thỏa thuận bồi thường cho anh Triệu Văn X số tiền 35.000.000đ. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình đã gây ra.

Quá trình điều tra và trong Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, bị hại anh Triệu Văn X trình bày: Tối ngày 01/3/2025, bị cáo Lý Văn S đã có hành vi dùng gậy gỗ đập vỡ phần kính chắn gió phía sau xe ô tô biển số 24A – 027.97 của anh đỗ ở hiên trước nhà, gây thiệt hại 2.900.000đ. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Lý Văn S đã chủ động đến xin lỗi và tự nguyện bồi thường cho anh số tiền 35.000.000đ để khắc phục hậu quả nên anh không yêu cầu bị cáo S phải bồi thường gì thêm. Anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lý Văn S để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang) đã truy tố đối với bị cáo. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo Lý Văn S còn được chứng minh bằng Biên bản xác định hiện trường, Biên bản khám phương tiện, Biên bản định giá tài sản, lời khai của người làm chứng và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 20 giờ 48 phút ngày 01/3/2025, tại Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn P, xã T, tỉnh Tuyên Quang), Lý Văn S đã có hành vi dùng gậy gỗ đập vỡ kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA - INNOVA, màu sơn bạc, biển số 24A – 027.97 của anh Triệu Văn X. Tài sản bị hư hỏng có giá trị 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng).

Hành vi trên của bị cáo Lý Văn S đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang) truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Do vậy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã thỏa thuận và bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả; bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với bị cáo để quyết định mức án cho phù hợp.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú và có khả năng tự cải tạo nên không thiết cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân không có tài sản gì riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan Điều tra đã trả lại 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota INNOVA, màu bạc, sản xuất năm 2009, biển số đăng ký: 24A-027.97 cùng toàn bộ giấy tờ có liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Triệu Văn X nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với 01 đoạn gậy gỗ mà cơ quan Điều tra đã thu giữ được xác định là hung khí bị cáo Lý Văn S sử dụng trực tiếp để phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về phần dân sự:

Quá trình điều tra, bị cáo Lý Văn S đã thỏa thuận và bồi thường cho bị hại anh Triệu Văn X số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng). Trong đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt bị hại anh Triệu Văn X không yêu cầu bị cáo Lý Văn S phải bồi thường gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo Lý Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Lý Văn Tr cùng bị cáo Lý Văn S đến tìm anh Triệu Văn X để đánh, nhưng không gặp anh X nên Tr bỏ đi ra khỏi khu vực nhà anh X, Tr chưa thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cơ quan Điều tra không đề cập xử lý.

Ngày 10/02/2025, anh Nguyễn Huy Q, trú tại thôn C, xã Nh, huyện B, tỉnh Lào Cai là người đứng tên chủ sở hữu xe ô tô tô nhãn hiệu TOYOTA - INNOVA, màu sơn bạc, biển số 24A – 027.97 bán chiếc xe ô tô nêu trên cho anh Triệu Văn X. Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 6 Thông tư số 79/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định về cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, tại thời điểm xảy ra vụ án là 20 ngày, chưa hết ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe đứng tên trong chứng nhận đăng ký xe phải làm thủ tục thu hồi nên không đề cập xử lý.

Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Lý Văn S phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn S 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2025).

Giao bị cáo Lý Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) đoạn gậy gỗ dài 77cm, đường kính 12cm, gậy gỗ cũ đã qua sử dụng (tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Tuyên Quang)).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Bị cáo Lý Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Lý Văn S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại anh Triệu Văn X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ