- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày 23/7/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hợp
Ông Nguyễn Văn Kiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Lý Khang- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Phụng- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn L, sinh ngày X/Y/Z tại Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ N, khu phố V, phường R, tỉnh A (Trước đây là khu phố V, phường V, thành phố R, tỉnh K); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1967; Vợ: Vũ Trương Minh H, sinh năm 1995; Em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền sự: Không.
* Tiền án: 01 tiền án: Ngày 06/3/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang) tuyên phạt 08 năm tù về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 29/2018/HSST, đến ngày 02/07/2023 thì chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Ông Nguyễn Lê Nhật M, sinh năm 1991 (Có mặt)
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh K (Nay là xã T, tỉnh A).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ, ngày 04/11/2024, Trần Văn L điều khiển xe mô tô gắn biển đăng ký số 68E1-232.78 di chuyển từ thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (Nay là phường Rạch Giá, tỉnh An Giang) đi xã Thạnh Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang), khi đến cửa hàng vật liệu xây dựng Cẩm Tiên thuộc ấp Thạnh Bình, xã Thạnh Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang), Long đỗ xe bên đường lộ nông thôn cách cửa hàng Cẩm Tiên khoảng 10m, quan sát xung quanh không thấy người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Long đi vào trong cửa hàng nhìn thấy một máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, Long kéo máy cắt ra trước cửa để chỗ khuất, Long đi lấy xe mô tô rồi chạy đến nơi để máy cắt để mang đi thì bị anh Nguyễn Lê Nhật M (Chủ cửa hàng Cẩm Tiên) phát hiện, truy hô cùng người dân đuổi theo giữ Long rồi trình báo cơ quan chức năng.
* Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 (một) máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, số 1255T89608100461820102, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại Winner X, màu đỏ-bạc-đen, số máy KC34E1106114, số khung RLHKC3719LY005784, đã qua sử dụng.
- 01 (một) biển số 68E1-232.78, đã qua sử dụng.
- 01 (một) cây kìm kim loại dài 16cm, cán bằng nhựa màu đỏ, trên cán có chữ MAXPRO, đã qua sử dụng.
* Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng Định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 (một) máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, số 1255T89608100461820102 đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 11/2024 có giá là: 11.907.396đ (Mười một triệu, chín trăm lẻ bảy nghìn, ba trăm chín mươi sáu đồng).
* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Trần Văn L đã bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, Trần Văn Long thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Lê Nhật M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Viện kiểm sát không xem xét.
Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKS-CT ngày 27/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang) đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tranh luận và luận tội: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Lê Nhật M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số 68E1-232.78, đã qua sử dụng và 01 (một) cây kìm kim loại dài 16cm, cán bằng nhựa màu đỏ, trên cán có chữ MAXPRO, đã qua sử dụng.
Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã trả tài sản cho bị hại Nguyễn Lê Nhật Minh 01 (một) máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, số 1255T89608100461820102, đã qua sử dụng theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại Winner X, màu đỏ-bạc-đen, số máy KC34E1106114, số khung RLHKC3719LY005784, đã qua sử dụng, để giải quyết trong một vụ việc khác theo Quyết định xử lý vật chứng số 143/QĐ-ĐTTH ngày 12/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Bị hại Nguyễn Lê Nhật M đề nghị Hội đồng xét xử xử lý về hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật, không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.
Bị cáo thống nhất quan điểm tranh luận và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L quanh có chối về mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, chỉ khi HĐXX xét hỏi, làm rõ hành vi, mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo thì bị cáo mới thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Khoảng 12 giờ, ngày 04/11/2024, bị cáo Trần Văn L điều khiển xe mô tô gắn biển đăng ký số 68E1-232.78 từ thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (Nay là phường Rạch Giá, tỉnh An Giang) đi xã Thạnh Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang), khi đến cửa hàng vật liệu xây dựng Cẩm Tiên thuộc ấp Thạnh Bình, xã Thạnh Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang), bị cáo lén lút lấy trộm một máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, số 1255T89608100461820102, đã qua sử dụng có giá trị 11.907.396 đồng của anh Nguyễn Lê Nhật M nhằm để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang) đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy vụ án. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Nhưng vì tham lam, chây lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ cho bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp máy cắt của bị hại Nguyễn Lê Nhật M nhằm để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, tiền sự, có 01 tiền án chưa được xóa án tích.
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Như đã nêu trên, tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L quanh có chối về mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, chỉ khi HĐXX xét hỏi, làm rõ hành vi, mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo thì bị cáo mới chịu thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu nên Hội đồng xét xử không áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Từ những phân tích nêu trên và xem xét ý kiến của bị hại về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, qua nghị án, Hội đồng xét xử xem xét hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo để có mức án phù hợp đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội; đồng thời, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Lê Nhật M đã nhận lại tài sản là (01 (một) máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, số 1255T89608100461820102, đã qua sử dụng), không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét
[6] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm về tội danh, khung hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận để xem xét. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt và áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là chưa phù hợp nên HĐXX cân nhắc, xem xét khi lượng hình đối với bị cáo trong nghị án.
[7] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
7.1. 01 (một) biển số 68E1-232.78, đã qua sử dụng và 01 (một) cây kìm kim loại dài 16cm, cán bằng nhựa màu đỏ, trên cán có chữ MAXPRO, đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
7.2. Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã trả tài sản cho bị hại Nguyễn Lê Nhật Minh 01 (một) máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, số 1255T89608100461820102, đã qua sử dụng theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
7.3. Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại Winner X, màu đỏ-bạc-đen, số máy KC34E1106114, số khung RLHKC3719LY005784, đã qua sử dụng, để giải quyết trong một vụ việc khác theo Quyết định xử lý vật chứng số 143/QĐ-ĐTTH ngày 12/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
[8] Về án phí:
8.1. Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
8.2. Bị hại không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1.2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Về biện pháp tư pháp:
3.1. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số 68E1-232.78, đã qua sử dụng và 01 (một) cây kìm kim loại dài 16cm, cán bằng nhựa màu đỏ, trên cán có chữ MAXPRO, đã qua sử dụng.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh An Giang) đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 31/QĐ-VKSCT ngày 27/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang).
3.2. Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã trả tài sản cho bị hại Nguyễn Lê Nhật Minh 01 (một) máy cắt nhãn hiệu JASIC LGK-100 (L201) màu cam, số 1255T89608100461820102, đã qua sử dụng theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
3.3. Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại Winner X, màu đỏ-bạc-đen, số máy KC34E1106114, số khung RLHKC3719LY005784, đã qua sử dụng, để giải quyết trong một vụ việc khác theo Quyết định xử lý vật chứng số 143/QĐ-ĐTTH ngày 12/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I của Danh mục án phí thuộc Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, xử:
4.1. Buộc bị cáo Trần Văn L phải có nghĩa vụ nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
4.2. Bị hại không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/7/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 3, tỉnh An Giang; - THAHS tỉnh An Giang (Khi án có hlpl); - Phòng THADS khu vực 3, tỉnh An Giang (Khi án có hlpl); - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu Hương |