vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 02/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Rmah M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Rmah M 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/9/2024. Bị cáo, NĐDHP, NBC; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Rmah M phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Rmah M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01 /2025/HS-ST
Ngày 02-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nay Lu Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Xuân Toàn và bà Nguyễn Thanh Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 268/20TB-TA ngày 27 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Rmah M, sinh ngày 01/01/1999 tại huyện C, tỉnh G; nơi cư trú: Thôn Plei Thong B, xã Ia Hrú, huyện C, tỉnh G; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpuih Hoang, sinh năm 1969 và bà Rmah H’Ră, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là chị Đinh Bai, sinh năm 1999 nhưng đã ly hôn và có 01 người con sinh năm 2018.

Tiền án: 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và 01 tiền án về tội Cố ý gây thương tích, cụ thể:

- Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh G xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 02/12/2017 chấp hành xong trở về địa phương.

- Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh G xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G xử phạt 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 23 tháng tù, ngày 11/7/2020 chấp hành xong trở về địa phương.

- Năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 27/12/2023 chấp hành xong trở về địa phương.

Tiền sự: 01 (Ngày 14/08/2024, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng.

Ngày 27/9/2024, bị cáo Rmah M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác tại thôn Hòa Sơn, xã Ia Phang, huyện C, tỉnh G. Bị Cơ quan CSĐT Công an huyện C khởi tố, điều tra về tội “Trộm cắp tài sản” và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2024 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Hoà Sơn, xã Ia Phang, huyện C, tỉnh G. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Rmah M: Ông Đặng Ngọc Ba – Luật sư cộng tác viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. Có mặt.

* Người phiên dịch: Ông Siu Thun Phrâo - Nguyên cán bộ Trung tâm y tế huyện C, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 27/9/2024, Rmah M một mình đi bộ đến địa phận xã Ia Phang, huyện C với mục đích nhằm tìm kiếm nhà dân ở đây sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài. Khi đến đoạn đường khu vực nhà anh Nguyễn Xuân H (sinh năm 1997) tại thôn Hòa Sơn, xã Ia Phang, huyện C thì M phát hiện nhà anh Hưng cổng đang mở nên M đi vào bên trong, M tiếp tục đi xung quanh nhà thì thấy cửa hông nhà phía sau chỉ khép mà không khóa chốt, thấy vậy M đẩy cửa đi vào trong thì thấy khu vực phòng bếp có dựng một chiếc xe đạp điện (màu sơn đen, trên thân xe có dòng chữ “Tokyo Ecospost”) chìa khóa đang cắm trên ổ khóa điện của xe. Lúc này, M dắt chiếc xe trên ra khỏi nhà rồi điều khiển xe bỏ đi.

Sau khi ngủ dậy thì phát hiện chiếc xe đạp điện của gia đình đã bị kẻ gian trộm cắp nên đến ngày 28/9/2024 anh Nguyễn Xuân H đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tố giác, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành kiểm tra, xác minh đồng thời tiếp nhận Rmah M ra đầu thú và giao nộp chiếc xe đạp điện trên, bản thân M đã khai báo toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật trên của mình.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị thực tế của 01 chiếc xe đạp điện, màu sơn đen, trên thân xe có dòng chữ “Tokyo Ecosport” được mua tháng 10/2023, đã qua sử dụng là 4.700.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc xe đạp điện, màu sơn đen, trên thân xe có dòng chữ “Tokyo Ecosport” đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Xuân H, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 19 ngày 04/10/2024 giao trả tài sản trên cho anh Hưng.

Về trách nhiệm dân sự: Sau sự việc xảy ra, bị hại anh Nguyễn Xuân H không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 02/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G đã truy tố bị cáo Rmah M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Diễn biến tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Rmah M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Rmah M mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Người bào chữa cho bị cáo Rmah M thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, có con chưa thành niên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo Rmah M thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến kêu oan hoặc khiếu nại và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại đối với hành vi, quyết định của cơ quan cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Quá trình thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo Rmah M đều thừa nhận nội dung truy tố của bản Cáo trạng là đúng và không oan sai. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:

Vào sáng ngày 27/9/2024, lợi dụng sơ hở của anh Nguyễn Xuân H trong việc quản lý tài sản, bị cáo Rmah M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp điện, màu sơn đen đã qua sử dụng của anh Nguyễn Xuân H tại thôn Hòa Sơn, xã Ia Phang, huyện C có tổng trị giá 4.700.000 đồng với mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Xuân H, bị cáo đã thành niên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, hậu quả gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, thuộc trường hợp lỗi cố ý trực tiếp. Tài sản bị chiếm đoạt có “trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, bản thân bị cáo từng có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản và 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích đến nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vì vậy đây là trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hành vi của bị cáo Rmah M đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 02/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật và không oan sai.

Do đó cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Bị cáo có 01 tiền sự (Ngày 14/08/2024, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa nộp phạt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở địa bàn miền núi, có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Xuân H đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe đạp điện, màu sơn đen, trên thân xe có dòng chữ “Tokyo Ecosport” và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe đạp điện, màu sơn đen, trên thân xe có dòng chữ “Tokyo Ecosport” đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Xuân H, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 19 ngày 04/10/2024 giao trả tài sản trên cho anh Hưng là đúng quy định.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Rmah M.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Rmah M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Rmah M 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/9/2024.

3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Rmah M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

4. Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ