vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang Tuyên án 14/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Văn T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUANG BÌNH
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST
Ngày 14/01/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hoàng Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Sơn Hải

2. Bà Nông Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Ông Lâm Thái Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Bà Quan Thị Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 14/01/2025, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án Hình sự Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, điểm cầu thành phần: Phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, Toà án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 11/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 31/12/2024 đối với bị cáo:

Lộc Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 30/11/1992 tại: huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lộc Văn C; con bà: Đoàn Thị Th; anh, chị, em ruột: có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/3/2018 có hành vi Trộm cắp tài sản thôn Nà Tàn, xã Thiện Hoà, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, ngày 15/6/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn khởi tố về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 08/9/2018 có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn Làng Chẽ, xã Qu Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, ngày 24/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn khởi tố về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 08/02/2018 có hành vi Tàng trữ hàng cấm xảy ra tại tổ dân phố Đồi, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, ngày 21/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên khởi tố về tội Tàng trữ hàng cấm quy định tại khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự. Ngày 05/9/2018 có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn Ngần Hạ, xã Tân Thành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, ngày 25/01/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang khởi tố về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Lừu Văn V; địa chỉ: Thôn Kh, xã T, huyện Qu, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.

2. Anh Lừu Văn C, sinh năm 1980; trú tại: Thôn Kh, xã T, huyện Qu, tỉnh Hà Giang; Người đại diện theo ủy quyền của anh Lừu Văn C: Anh Lừu Văn V, sinh năm 1974; trú tại: Thôn Kh, xã T, huyện Qu, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Anh Đào Văn Ph, sinh năm 1976; trú tại: khu 2, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Văng mặt.

2. Anh Nguyễn Bằng Gi, sinh năm 1971; trú tại: Khu 4, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

3. Anh Phạm Tuấn Ngh, sinh năm 1972; trú tại: Khu 3, xã Th, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Hà Kim C, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

2. Anh Lý Văn Qu, sinh năm 1989, nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/9/2018 tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Hà Kim C rủ Lộc Văn T lên tỉnh Hà Giang tìm trâu để trộm cắp, T đồng ý. Sáng ngày 10/9/2018, T điều kiển xe mô tô biển kiểm soát 20C1-163.52 của T chở C đi từ thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đi lên tỉnh Hà Giang, khi đến địa phận thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang thì đi theo đường Quốc lộ 279 đi vào huyện Quang Bình và rẽ vào tỉnh lộ 178 đi đến địa phận thôn Khâu Làng, xã Tân Nam, huyện Quang Bình thì T và C nhìn thấy chuồng trâu của gia đình anh Lừu Văn V ở cạnh đường có nhiều vết chân trâu, T và C quan sát khu vực chuồng trâu và khu vực xung quanh có thể trộm cắp trâu được nên điều khiển xe đi ra đường Quốc lộ 2, sau đó T sử dụng điện thoại (số 01683.896.460) gọi cho Lý Văn Qu, sinh năm 1989, trú tại xóm Cộng Hòa, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (số điện thoại 0977835712) bảo Qu đi xe ô tô tải lên Hà Giang để chở trâu với giá thuê chở là 3.000.000đ (Trước đó Qu đã chở trâu trộm cắp cho T ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn và huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nên Qu biết T gọi lên là để chở trâu trộm cắp) Qu đồng ý và đi mua 03 bao tải đựng mùn cưa (mục đích để trải xuống sàn thùng xe cho trâu khỏi bị trơn) sau đó điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 89K-2605 đi lên tỉnh Hà Giang để gặp T và C. Khi đến huyện Bắc Quang, Qu gặp Tòan và C, Toản và C cho xe mô tô của T lên thùng xe ô tô của Qu rồi Qu điều khiển xe chở T và C đi đến thôn Khâu Làng, xã Tân Nam, huyện Quang Bình. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì T, C, Qu đến khu vực chuồng trâu gia đình anh Lừu Văn V, Qu điều khiển xe ô tô đi qua chuồng trâu khoảng 170 mét rồi dừng xe cho C xuống sau đó Qu điều khiển xe đi tiếp. C sách theo một túi nilon bên trong đựng dây thừng rồi đi bộ đến chỗ chuồng trâu, trong chuồng trâu có 06 con trâu trong đó có 02 con trâu cái to có dây thừng buộc vào cột chuồng còn 04 con nhỏ hơn không có dây thừng buộc vào cột chuồng. C mở then cửa chuồng trâu rồi lấy dây thừng trong túi ni lông buộc vào cổ 04 con trâu bé để cho dễ dắt trâu lên xe sau đó C dắt 02 con trâu to ra còn 04 con trâu bé tự đi theo (06 con trâu gồm 01 con trâu cái khoảng 07 năm tuổi, 01 con trâu cái khoảng 03 năm tuổi, 01 con trâu cái khoảng 1 năm tuổi của Lừu Văn V; 01 con trâu cái khoảng 10 năm tuổi, 02 con trâu đực khoảng 1,5 tuổi của Lừu Văn C, sinh năm 1974 là em trai của Lừu Văn V gửi nhờ). C dắt trâu đi được khoảng 150 mét đến một khe nước cạnh đường thì C buộc 02 con trâu cái to vào gốc cây rồi gọi điện cho T thông báo đã dắt trộm được trâu. Qu điều khiển xe ô tô đến chỗ C đứng đợi, T và Qu cho xe máy trên ô tô xuống, C lấy 03 bao mùn cưa dải xuống thùng xe rồi vứt 03 vỏ bao tải xuống đường, sau đó T và C dắt 04 con trâu gồm 01 con trâu to khoảng 07 năm tuổi và 03 con trâu khoảng từ 01 đến 03 năm tuổi lên thùng xe ô tô, do thùng xe trật nên để lại 01 con trâu to khoảng 10 năm tuổi, 01 con trâu khoảng 03 năm tuổi. Khi dắt trâu lên thùng xe T làm rơi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, vỏ màu đen lắp sim số 01683896460 tại hiện trường. Sau khi cho trâu lên thùng xe T đi xe mô tô đi trước, Qu điều khiển xe ô tô chở C cùng trâu trộm cắp được đi về. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 11/9/2018, C dẫn đường cho Qu chở 04 con trâu trộm cắp được gửi nhà bà Kiều Thị T1 tại xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, rồi Qu lái xe về nhà, còn C ở lại nhà bà Tỏ để chăn trâu, sau đó C đã nhờ Đào Văn Ph, sinh năm 1976 trú tại xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (con trai của bà T1) liên hệ bán giúp 04 con trâu. Đến ngày 16/9/2018, Đào Văn Ph liên hệ và bán 04 con trâu cho anh Nguyễn Bằng Gi sinh năm 1971 trú tại Khu 4, xã Tân Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và anh Phạm Tuấn Ngh, sinh năm 1972, trú tại Khu 3, xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với giá 48.300.000đ, Ngh, Gi trả cho C số tiền 46.300.000đ, còn nợ lại 2.000.000đ (số tiền nợ này C bảo anh Ph lấy để trả công cho anh Ph). Số tiền bán trâu trộm cắp mà có C lấy 22.000.000đ, đưa cho T 23.000.000đ trong đó 5.000.000đ để trả tiền thuê xe của Qu (nhưng T chưa đưa tiền cho Qu) còn 1.300.000đ C và T cùng nhau chi tiêu hết. Sau khi mua được 04 con trâu, anh Nguyễn Bằng Gi và Phạm Tuấn Ngh mang về nuôi tại khu Thanh Hà, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngày 17/9/2018 khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang đến làm việc, anh Phạm Tuấn Ngh đã tự nguyện giao nộp 04 con trâu cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Sáng ngày 11/9/2018 anh Lừu Văn V phát hiện bị mất trâu đã đi tìm phát hiện 02 con trâu bị mất trộm cách chuồng trâu khoảng 100m và báo với Công an xã Tân Nam, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Đối với Lộc Văn T sau khi biết Hà Kim C, Lý Văn Qu bị bắt đã bỏ trốn sang Trung Quốc, ngày 15/12/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình đã ra Quyết định truy nã. Ngày 30/8/2024 Lộc Văn T bị Đồn Biên Phòng Cửa khẩu quốc tế Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh bắt, sau đó bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn để xử lý trong vụ án khác.

Ngày 17/9/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Quang Bình ra văn bản số 18/CV-CSĐT, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quang Bình định giá 06 con trâu do các bị cáo T và C, Qu trộm cắp.

Tại Kết luận định giá số 223/KL-HĐĐG ngày 17/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quang Bình kết luận:

01 con trâu cái, màu lông đen, khoảng 03 năm tuổi, sừng dài khoảng 25cm; trị giá 15.400.000 đồng.

01 con trâu cái, màu lông đen, khoảng 07 năm tuổi, sừng dài khoảng 40cm; trị giá 22.000.000 đồng.

01 con trâu (Nghé) cái, màu lông đen, khoảng 01 năm tuổi, sừng dài khoảng 10cm trị giá 5.000.000 đồng.

01 con trâu cái, màu lông đen, khoảng 10 năm tuổi, sừng dài khoảng 45cm; trị giá 19.800.000 đồng

01 con trâu (Nghé) đực, màu lông đen, sừng dài khoảng 20cm; trị giá 11.000.000 đồng.

01 con trâu (Nghé) đực, màu lông đen, sừng dài khoảng 20cm; trị giá 11.000.000 đồng.

Tổng giá trị của tài sản là 84.200.000đ (Tám mươi tư triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS-QB ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Lộc Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự

Về trách nhiệm dân sự: Lý Văn Qu, Hà Kim C đã bồi thường cho các bị hại Lừu Văn V, Lừu Văn C số tiền 10.400.000 đồng.

Hà Kim C đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Văn Ph số tiền 46.300.000đ.

Hà Kim C, Lý Văn Qu không yêu cầu Lộc Văn T phải hoàn trả số tiền đã bỏ ra bồi thường cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

* Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn đỏ, đen, trắng mang biển kiểm soát 20C1-163.52;

- 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu NOKIA, 1280, vỏ màu đen, cũ, đã qua sử dụng.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005378 mang tên Sằm Văn Doanh.

- 06 (sáu) con trâu, trong đó 02 con trâu cái to và 04 con trâu nhỏ có sắc lông màu đen.

- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải 1,4 tấn, màu sơn xanh, biển kiểm soát 89K- 2605,

- Số tiền 18.460.000 đồng thu giữ của Hà Kim C.

- 03 (ba) đoạn dây thừng màu nâu đỏ.

- 01 (một) túi nilon màu đen.

- 03 (ba) bao tải nhựa màu xanh.

- 01 (một) điện thoại Iphone 6, màn hình màu đen, vỏ sau màu bạc, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có số IMEL 355393074711649 có sim mang số thuê bao 0977835712.

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, có số IMEL 357342088857326.

Tại bản án số 01/2019/HS-ST ngày 09/01/2019 Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang đã xử lý các vật chứng:

- 06 (sáu) con trâu, trong đó 02 con trâu cái to và 04 con trâu nhỏ có sắc lông màu đen.

- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải 1,4 tấn, màu sơn xanh, biển kiểm soát 89K- 2605,

- Số tiền 18.460.000 đồng thu giữ của Hà Kim C.

- 03 (ba) đoạn dây thừng màu nâu đỏ.

- 01 (một) túi nilon màu đen.

- 03 (ba) bao tải nhựa màu xanh.

- 01 (một) điện thoại Iphone 6, màn hình màu đen, vỏ sau màu bạc, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có số IMEL 355393074711649 có sim mang số thuê bao 0977835712.

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, có số IMEL 357342088857326.

Số vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình để quản lý theo quy định của pháp luật gồm:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn đỏ, đen, trắng mang biển kiểm soát 20C1-163.52;

- 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu NOKIA, 1280, vỏ màu đen, cũ, đã qua sử dụng.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005378 mang tên Sằm Văn D.

Tại phiên tòa bị cáo Lộc Văn T đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ chứng minh do cơ quan Điều tra thu thập được về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cũng như vật chứng thu giữ được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lộc Văn T về tội danh, điều luật như nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lộc Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS.

1. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Văn T từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Số tài sản trộm cắp đã trả lại cho chủ sở hữu, các bị hại, người liên quan, người làm chứng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên không xem xét trách nhiệm dân sự.

4. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận:

- Bị cáo có ý kiến: Ông nội bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân huy chương đề nghị xem xét thêm tình tiết này cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình có ý kiến đối đáp: Quá trình điều tra bị cáo không trình bầy nội dung này, tại phiên tòa hôm nay bị cáo không cung cấp được tài liệu thể hiện ông nội bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân huy chương nên không đủ cơ sở để xem xét.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo xin lỗi các bị hại, bị cáo biết hành vi của mình là sai phạm xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến nội dung vụ án và quá trình xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng.

Căn cứ định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn T phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ ngày 10/9/2018, tại thôn Khâu Làng, xã Tân Nam, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, Lộc Văn T, sinh năm 1992 trú tại xóm Tiền Phong, xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã cùng Hà Kim C, sinh năm 1987, trú tại thôn An Vượng, xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và Lý Văn Qu, sinh năm 1989, trú tại xóm Cộng Hòa, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã có hành vi trộm cắp 06 con trâu của các bị hại Lừu Văn V và Lừu Văn C trị giá 84.200.000đ (Tám mươi tư triệu hai trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Lộc Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản quy tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm .

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) ...;

b)...;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000đồng;

d).........”.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình truy tố bị cáo Lộc Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân: Ngày 06/3/2018 bị cáo có hành vi Trộm cắp tài sản thôn Nà Tàn, xã Thiện Hoà, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, ngày 15/6/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn khởi tố về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Ngày 08/9/2018 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn Làng Chẽ, xã Qu Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, ngày 24/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn khởi tố về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Ngày 08/02/2018 bị cáo có hành vi Tàng trữ hàng cấm xảy ra tại tổ dân phố Đồi, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, ngày 21/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên khởi tố về tội Tàng trữ hàng cấm quy định tại khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự; Ngày 05/9/2018 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn Ngần Hạ, xã Tân Thành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, ngày 25/01/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang khởi tố về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự,

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo thấy rằng: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, trong vụ án bị cáo thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn cùng Hà Kim C, Lý Văn Qu, không có sự phân công, tổ chức từ trước, mỗi người có vai trò khác nhau vì vậy cần cá thể hóa để áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Hà Kim C có vai trò chủ mưu là người trực tiếp rủ bị cáo đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo là người trực tiếp gọi điện cho Lý Văn Qu mang phương tiện ôtô lên để cùng trộm cắp tài sản và chở số trâu trộm cắp được đi cất dấu và tiêu thụ, bị cáo đứng cảnh giới cho C vào dắt trâu và là người cùng C, Qu cho trâu trộm cắp được lên xe và mang đi cất dấu tại nhà bà Kiều Thị Tỏ, Số tiền do bán tài sản trộm cắp được bị cáo được chia là 23.000.000đ, bị cáo không phải người chủ mưu nhưng có vai trò tích cực trong vụ án. Hành vi của Hà Kim C, Lý Văn Qu đã bị xử lý trong vụ án khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp, được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang trong cộng đồng dân cư, ngoài ra nhân thân bị cáo đã thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật ngoài lần phạm tội lần này còn thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng mức án phù hợp với tính chất phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung, nhưng cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người làm chứng Lý Văn Qu, Hà Kim C đã bồi thường cho các bị hại Lừu Văn V, Lừu Văn C số tiền 10.400.000đ; Người làm chứng Hà Kim C đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Văn Ph số tiền 46.300.000đ. Người làm chứng Hà Kim C, Lý Văn Qu không yêu cầu Lộc Văn T phải hoàn trả, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Văn Ph, Nguyễn Bằng Gi, Phạm Tuấn Ngh và các bị hại Lừu Văn V, Lừu Văn C trong vụ án này không yêu cầu xem xét trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo do đó HĐXX không xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Lộc Văn T.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng là: 06 (sáu) con trâu, trong đó 02 con trâu cái to và 04 con trâu nhỏ có sắc lông màu đen; 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe tải 1,4 tấn, màu sơn xanh, biển kiểm soát 89K- 2605; Số tiền 18.460.000 đồng thu giữ của Hà Kim C; 03 (ba) đoạn dây thừng màu nâu đỏ; 01 (một) túi nilon màu đen; 03 (ba) bao tải nhựa màu xanh; 01 (một) điện thoại Iphone 6, màn hình màu đen, vỏ sau màu bạc, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có số IMEL 355393074711649 có sim mang số thuê bao 0977835712; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, có số IMEL 357342088857326, đã được xử lý tại bản án số 01/2019/HS-ST ngày 09/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Đối với số vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình để quản lý theo quy định của pháp luật gồm: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn đỏ, đen, trắng mang biển kiểm soát 20C1-163.52, số máy 5C6K266258, số khung C6K0GY266253, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu NOKIA, 1280, vỏ màu đen, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 005378 mang tên Sằm Văn Doanh, Xét thấy số vật chứng trên là công cụ, phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn đỏ, đen, trắng mang biển kiểm soát 20C1-163.52, số máy 5C6K266258, số khung C6K0GY266253, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu NOKIA, 1280, số IMEI 356936093652357 vỏ màu đen, cũ, đã qua sử dụng.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005378 mang tên Sằm Văn D, địa chỉ Kim Tiến, Kim Sơn, Định Hóa, Thái Nguyên, biển số đăng ký 20C1-16352.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2024 giữa Công an huyện Quang Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình).

4. Án phí: Bị cáo Lộc Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ