- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày 21/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chung
2. Ông Lương Văn Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Cao Hồng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1985 tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số 038085046625; nơi cư trú: khu phố X, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh C (đã chết) và bà Đỗ Thị Đ (đã chết); có vợ là Hà Thị T và 02 con; Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/8/2024 đến ngày 20/8/2024 được tại ngoại; từ ngày 26/8/2024 bị cáo bị tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa; bị cáo có mặt.
* Bị hại: Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1991; địa chỉ: khu phố X, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
* Người làm chứng:
+ Nguyễn Duy P, sinh năm 1986; có mặt.
+ Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; có mặt.
+ Hoàng Văn D, sinh năm 1999; có mặt.
+ Vũ Văn Đ, sinh năm 1978; có mặt.
Đều địa chỉ tại: khu phố X, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
+ Vũ Hoài N, sinh năm 1981; địa chỉ: khu phố X, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
+ Lê Văn T, sinh năm 2005; Địa chỉ: thôn Y, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/8/2024, sau khi ăn cơm và có uống rượu, Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 (đia chỉ: khu X, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá) ngồi uống nước phía trước cửa quán của nhà mình. Lúc này, ở phía đối diện bên kia đường tại bàn uống nước nằm trước xưởng tôn thép Nga Phú gồm có: Đỗ Văn L, sinh năm 1991; Nguyễn Duy P, sinh năm 1986 (là chủ nhà); Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Hoàng Văn D, sinh năm 1999; Vũ Văn Đ, sinh năm 1978 (cùng địa chỉ: khu X, thị trấn S, huyện Q); Vũ Hoài N, sinh năm 1981 (địa chỉ: khu X, thị trấn S, huyện Q); Lê Văn T, sinh năm 2005 (địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hoá) ngồi uống nước, nói chuyện với nhau. Lời khai của Nguyễn Văn H do nghe thấy tiếng của mọi người ngồi nói chuyện tại bàn uống nước nhà anh P và nghe tiếng L nói “Sợ gì thằng H”; cũng từ xuất phát việc có mẫu thuẫn với Đỗ Văn L do nghi ngờ có mối quan hệ “ngoài luồng” với vợ mình và mâu thuẫn này đã được Công an thị trấn Sơn Lư triệu tập hai bên để hoà giải từ mấy tháng trước, Nguyễn Văn H đã nghĩ rằng mình bị L khiêu khích nên đã vào bếp lấy 01 (một) con dao (dạng dao thái thịt, lưỡi dao bằng kim loại) giắt vào bên trong cạp quần phía trước bụng, đồng thời cầm ở tay phải 01 (một) con dao (dạng dao chặt xương của gia đình, có cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, dài 38cm, phần rộng nhất ở lưỡi dao 8cm) đi về phía L lúc này vẫn đang ngồi tại bàn uống nước theo hướng lưng chếch chéo ra đường Quốc lộ 217, mặt hướng vào trong nhà anh P. H đi đến phía sau, chếch chéo hông phải của L, đứng tại vị trí khoảng trống giữa anh L và anh T, không nói gì mà dùng tay phải đang cầm con dao, bả ngang má dao 01 (một) cái theo chiều hướng từ ngoài vào trong, từ sau ra trước ngang vào vùng má phải của anh L và nói “Mi bảo mi không sợ tau à”. Lúc này, anh L đang ngồi tại ghế nhựa, theo phản xạ anh L hơi quay mặt sang phải về hướng của H, đồng thời khi lưỡi dao gần chạm đến mặt anh L thì bất ngờ lưỡi dao bị xoay, tụt khỏi cán dao mà H đang cầm trên tay dẫn đến lưỡi dao chém vào vùng gò má của anh L, gây ra thương tích cho anh L. Sau khi bị H tấn công bất ngờ, anh L ngửa người về phía sau (không ngã xuống đất), ôm mặt chạy vào phía trong xưởng tôn thép nhà anh P Nga để đứng. Anh T, P thấy vậy liền can ngăn H (lúc này H không tiếp tục tấn công nữa mà đứng ở mép đường phía bên ngoài xưởng tôn thép nhà anh P). Anh D thấy anh L bị đánh thì cầm ống điếu cày tại bàn định đánh lại bị cáo H, bị cáo H thấy thế thì vứt cán dao đang cầm ở tay xuống đất và rút con dao đã chuẩn bị sẵn từ trước giắt trong cạp quần ra và cầm ở tay phải rồi sau đó đi về. L sau đó được anh Đ, anh D đưa xuống Bệnh viện đa khoa huyện Quan Sơn để điều trị.
Đến 03 giờ 00 ngày 11/8/2024 Nguyễn Văn H đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn đầu thú về hành vi của mình.
Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Đỗ Văn L có các dấu vết sau:
Tại vị trí trước, trên gò má phải, dưới mi mắt phải 01 cm có một vết thương hở kéo dài đến sống mũi phải, kích thước 08 cm x 0,5 cm; tấy đỏ tại vùng má phải, gò má phải.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 691/KLTTCT-PYTH ngày 23/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn L là 20% (hai mươi phần trăm); Tại vị trí trước, trên gò má phải, dưới mi mắt phải 01cm có một vết thương hở kéo dài đến sống mũi phải, kích thước 08cm x 0,5cm; Vết tấy đỏ tại vùng má phải, gò má phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Công an huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn H về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
* Vật chứng của vụ án thu giữ đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn chờ xử lý theo quy định, gồm: 01 (một) con dao mất cán bằng kim loại, kích thước 38cm x 08cm, lưỡi dao bị sứt mẻ, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) cán dao bằng gỗ dài 13cm, đường kính 04cm, tình trạng đã qua sử dụng.
* Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
* Về vấn đề khác: Cơ quan CSĐT đã trả lại cho gia đình bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) con dao bằng kim loại có chiều dài 37cm, cán dao bằng kim loại có chiều dài 16cm, chiều rộng cán 02cm; lưỡi dao dài 20cm, phần sống dao 18cm, chiều rộng nhất của dao dài 05cm, đầu sống lưỡi dao có 01 lỗ tròn.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSQS, ngày 28/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Về trách nhiệm hình sự đề nghị:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.
* Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn.
* Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST.
Bị hại và bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận tội và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người làm chứng Vũ Hoài N, HĐXX xét thấy người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo và bị hại không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về hành vi phạm tội: Lời khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/8/2024 tại khu phố X, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, xuất phát từ việc trước đó bị cáo Nguyễn Văn H nghi ngờ anh Đỗ Văn L có quan hệ ngoài luồng với vợ mình, cùng với việc bị cáo Hùng cho rằng anh L khi nói chuyện với bạn đã xúc phạm, khiêu khích bị cáo nên Nguyễn Văn H đã dùng dao bả ngang phần má dao vào vùng mặt phải của anh Đỗ Văn L. Hậu quả Đỗ Văn L bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Đỗ Văn L làm anh L bị tổn hại 20% (hai mươi phần trăm) sức khỏe của Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm sức khỏe của người khác. Hành vi và hậu quả của bị cáo Nguyễn Văn H gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, HĐXX thấy rằng: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng; Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe và an toàn tính mạng của người khác. Vì vậy cần xử lý nhanh chóng, kịp thời để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo không có mục đích dùng lưỡi dao chém mà dùng má dao bạt ngang làm cho hành vi bớt nguy hiểm và cũng làm giảm tính chất, mức độ nguy hại của hành vi phạm tội.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Hành vi của bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về phía bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi xảy sự việc bị cáo đã chủ động đến cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn đầu thú về hành vi của mình; ngoài ra trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định pháp luật, có đóng góp công sức trong việc phòng, chống đại dịch COVID - 19 được UBND thị trấn Sơn Lư xác nhận nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Việc bị hại không yêu cầu bồi thường hơn nữa lại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, điều này cho thấy bị hại rất thiện chí, cao thượng, bao dung, HĐXX xét thấy cần ghi nhận và đánh giá cao ý kiến của bị hại. Ý kiến và quan điểm của bị hại rất có ý nghĩa và được xem xét trong việc quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn H ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo mà không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu Tòa án xem xét phần dân sự nên miễn xét.
Về vật chứng: Toàn bộ vật chứng của vụ án đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 28 (hai mươi tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 56 (năm mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND thị trấn Sơn Lư, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người đang chấp hành án treo chuyển đi nơi khác thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để Công an làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục và thông báo bằng văn bản cho Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) con dao mất cán bằng kim loại, kích thước 38cm x 08cm, lưỡi dao bị sứt mẻ, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) cán dao bằng gỗ dài 13cm, đường kính 04cm, tình trạng đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2024 giữa cán bộ điều tra Công an huyện Quan Sơn và đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Quan Sơn; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn; - Cơ quan THAHS CA huyện Quan Sơn; - Chi cục THADS huyện Quan Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Xuân Tùng |