vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 06/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn Lg phạm tội Cướp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Lường Văn H 09 (Chín) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024. Xử phạt: Bị cáo Mùi Văn L 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H và ĐP - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn Lg phạm tội Cướp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST
Ngày 06/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ánh Hồng và ông Phùng Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường Sơn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lường Văn H (tên gọi khác: không), sinh ngày 01/9/1996

Nơi cư trú: Bản NB1, xã MS, huyện MC, tỉnh Sơn La

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): lớp 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn Y (đã chết) và con bà Vũ Thị M, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Có 01 - Năm 2022 bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 23 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 58/2022/HSST ngày 07/4/2022. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2023, đã nộp án phí ngày 07/6/2022 theo biên lai số 0001228.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 12/7/2012, TAND quận Từ Liêm, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng.

+ Ngày 10/5/2016, TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 14/8/2024 đến nay, bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lương Sơn bị dẫn giải có mặt tại phiên toà.

2. Mùi Văn L (tên gọi khác: không), sinh ngày 23/7/1995

Nơi cư trú: Bản NM, xã TH, huyện MC, tỉnh Sơn La

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mùi Văn Ch, sinh năm 1971 và con bà Đinh Thị Th, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Có 01 – Năm 2022, bị TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 64/2022/HSST ngày 27/4/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/10/2022, nộp án phí ngày 25/8/2022 theo biên lai 0079032.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Năm 2014, TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 14/8/2024 đến nay, bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lương Sơn bị dẫn giải có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Mùi Văn L: Ông Bùi Quang Ngọc – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình.

- Người bị hại: Anh Triệu Hoàng H1, sinh năm 2006. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn HP, xã HS, huyện LS, tỉnh Hoà Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị Thu Th, sinh năm 2003. Có mặt

Nơi cư trú: Thôn 6, xã PT, huyện PT, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/8/2024, Lường Văn H, sinh năm 1996, nơi thường trú: Bản NB 1, xã MS, huyện MC, tỉnh Sơn La điều khiển xe mô tô Honda Vision màu trắng, dán đề can màu hồng, biển kiểm soát 29E2-744.xx chở phía sau Mùi Văn Lg, sinh năm 1995, nơi thường trú: bản NM, xã TH, huyện MC, tỉnh Sơn La đi từ phòng trọ ở Thanh Oai, Hà Nội lên khu vực xã Hoà Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình nhằm mục đích đi trên đường quan sát xem ai có sơ hở sẽ thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Trước khi đi Mùi Văn L có mang theo 01 con dao gọt hoa quả để trong túi vải đeo trên người làm công cụ, H không biết việc L có mang theo con dao. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, H và L đi đến đoạn đường QL6 thuộc thôn N, xã HS, huyện LS, tỉnh Hoà Bình thì nhìn thấy anh Triệu Hoàng H1, sinh năm 2006 trú tại: Thôn HP, xã HS, huyện LS, tỉnh Hoà Bình đi xe đạp, cởi trần đang cầm một chiếc điện thoại di động trên tay, H và L điều khiển xe máy đi phía sau thì nhìn thấy anh H1 rẽ vào vào đường bê tông lối đi vào thôn HP, xã HS. Khi anh H1 đi vào đoạn đường cách QL6 khoảng 01 km thì anh H1 rẽ phải đi vào ngõ, H và L vẫn tiếp tục bám theo, đi được khoảng 100m thấy đoạn đường đang vắng người, H chủ động tăng ga đâm vào đuôi xe đạp của anh H1 đang điều khiển làm cho xe đạp bị đổ ra lề đường, anh H1 không bị ngã, H dựng chân chống xe mô tô rồi cùng L đi đến gần anh H1 giả vờ hỏi thăm xem anh H1 có bị làm sao không, anh H1 nói không sao rồi bật đèn Plash điện thoại di động lên để soi xem xe đạp có bị sao không, vừa giơ điện thoại lên L liền dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại trên tay anh H1. Khi thấy L giật được chiếc điện thoại của H1 thì H quay về chỗ dựng xe mô tô nổ máy đợi sẵn. Lúc này, anh H1 phản ứng muốn giằng lại chiếc điện thoại thì Long lấy con dao đã chuẩn bị sẵn khua dao về phía anh H1 làm cho anh H1 bị thương ở cánh tay trái, tay phải và vùng ngực, anh H1 sợ quá bỏ chạy hô hoán thì L nhảy lên xe mô tô H đang nổ máy đợi sẵn rồi cùng H tẩu thoát. Ngày 05/8/2024, Lường Văn H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn đầu thú. Cùng ngày 05/8/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Mùi Văn L.

* Kết quả định giá tài sản:

- Kết luận định giá tài sản số 26, ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lương Sơn, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 10, màu xanh than trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Cáo trạng số 78/CT-VKSLS, ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình truy tố các bị cáo Lường Văn H, Mùi Văn L về tội Cướp tài sản, theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn L phạm tội Cướp tài sản.

- Áp dụng điểm d khoản 2 điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58 và điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lường Văn H mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội Cướp tài sản.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Mùi Văn L mức án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 29E2 -744.21, số máy: JK03E7511746; số khung: RLHGK0327M200374, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lương Sơn đã cho chủ sở hữu là chị Đỗ Thị Thu Th nên không đề nghị xử lý

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 10, màu xanh than, số IMEI (khe cắm thẻ SIM1) 863742050025488; số IMET (khe cắm thẻ SIM 2) 863742050025496, đã qua sử dụng. Cơ quan Điều tra Công an huyện Lương Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu anh Triệu Hoàng H1 nên không đề nghị xử lý.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ:

- 01 (một) con dao dài 20cm, cán nhựa dài 9cm, lưỡi dao sắc nhọn dài 11cm, rộng 2,5cm.

- 01 (một) túi vải diện 34 x 13cm, có 4 ngăn có khoá, hoa văn hoạ tiết màu xám, đen, đỏ có dây đeo chéo dài 75cm.

- Trả lại cho bị cáo Lường Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live 4, màu xanh, số IMEI (khe cắm thẻ sim1) 354581110779056, IMEI (khe cắm sim 2) 354581110779064.

- Trả lại cho bị cáo Mùi Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo ROM, màu xanh, số IMEI1: 864300059931831, số IMEI2: 864300059931823.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Triệu H1 không có yêu cầu, đề nghị gì nên không đề nghị xử lý.

* Về án phí: Bị cáo Lường Văn H, Mùi Văn L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. .

Người bào chữa cho bị cáo Mùi Văn L: Đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt của VKS đề nghị đối với bị cáo Mùi Văn L. Đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự cho bị cáo Mùi Văn L do bị cáo có đơn xin miễn án phí, có xác nhận của chính quyền địa phương là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Lương Sơn; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà người bị hại anh Triệu Hoàng H1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn L đã khai nhận toàn bộ hành phạm tội cụ thể như sau: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 03/8/2024, Lường Văn H điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29E2 – 744.xx chở Mùi Văn L ngồi phía sau, đâm vào chiếc xe đạp do anh Triệu Hoàng H1 đang điều khiển nhằm mục đích khiến xe anh H bị ngã để thực hiện hành vi cướp tài chiếc điện thoại của anh H1 cầm trên tay. Sau khi xe anh H1 bị đâm ngã ra đường thì Mùi Văn L đã cướp chiếc điện thoại, anh H1 phản ứng giằng lại chiếc điện thoại thì L rút dao mang sẵn khua về phía anh H1 làm cho anh H1 bị thương tích ở cánh tay trái, tay phải và vùng ngực với tỷ lệ thương tích cơ thể là 01%.Trị giá chiếc điện thoại là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố các bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn L về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội: Các bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất trật tự an ninh trên địa bàn do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, không có sự phân công, bàn bạc, các bị cáo đều có vai trò là người thực hành. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo theo quy định tại điều 58 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung:

Bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn L sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội thuộc tình tiết định khung tội phạm được quy định tại điểm d khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

+ Bị cáo Lường Văn H có 01 tiền án tại bản án số 58/2022/HSST ngày 07/4/2022 của TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 22/9/2023. Bị cáo Mùi Văn L có 01 tiền án tại bản án số 64/2022/HSST ngày 27/4/2022 của TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/10/2022. Các bị cáo đều chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Lường Văn H đầu thú đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân:

+ Bị cáo Lường Văn H: Ngày 12/7/2012, TAND quận Từ Liêm, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng; Ngày 10/5/2016, TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.

+ Bị cáo Mùi Văn L: Năm 2014, TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Trộm cắp tài sản.

Căn cứ vào tính chất mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo HĐXX xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo giáo dục các bị cáo được quy định tại đièu 38 Bộ luật hình sự.

Đối với chị Đỗ Thị Thu Th là người cho bị cáo Lường Văn Hoà mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 29E2-744.xx chị Th không biết bị cáo H dùng chiếc xe để phạm tội do vậy cơ quan cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xử lý chị Th và xác định chị Th là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người bị hại anh Triệu Hoàng H1 không có yêu cầu đề nghị gì. Tại phiên toà chị Đỗ Thị Thu Th không yêu cầu, đề nghị nên không đề cập.

. Về vật chứng của vụ án đã thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 29E2 -744.xx, số máy: JK03E7511746; số khung: RLHGK0327M200374, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lương Sơn đã cho chủ sở hữu là chị Đỗ Thị Thu Th nên không đề cập.

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 10, màu xanh than, số IMEI (khe cắm thẻ SIM1) 863742050025488; số IMET (khe cắm thẻ SIM 2) 863742050025496, đã qua sử dụng. Cơ quan Điều tra Công an huyện Lương Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu anh Triệu Hoàng H1 nên không đề cập.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live 4, màu xanh, số IMEI (khe cắm thẻ sim1) 354581110779056, IMEI (khe cắm sim 2) 354581110779064, thu giũa của Lường Văn Hoà và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo ROM, màu xanh, số IMEI1: 864300059931831, số IMEI2: 864300059931823, thu giữ của Mùi Văn L. Quá trình điều tra các tài sản này các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

- 01 (một) con dao dài 20cm, cán nhựa dài 9cm, lưỡi dao sắc nhọn dài 11cm, rộng 2,5cm và 01 (một) túi vải diện 34 x 13cm, có 4 ngăn có khoá, hoa văn hoạ tiết màu xám, đen, đỏ có dây đeo chéo dài 75cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Lường Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Mùi Văn L là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn H và Mùi Văn Lg phạm tội Cướp tài sản.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lường Văn H 09 (Chín) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Mùi Văn L 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ:

- 01 (một) con dao dài 20 cm, cán nhựa dài 9cm, lưỡi dao sắc nhọn dài 11cm, rộng 2,5cm và 01 (một) túi vải diện 34 x 13cm, có 4 ngăn có khoá, hoa văn hoạ tiết màu xám, đen, đỏ có dây đeo chéo dài 75cm.

* Trả lại: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live 4, màu xanh, số IMEI (khe cắm thẻ sim1) 354581110779056, IMEI (khe cắm sim 2) 354581110779064 cho Lường Văn H; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo ROM, màu xanh, số IMEI1: 864300059931831, số IMEI2: 864300059931823 cho Mùi Văn L.

Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận ngày 30/11/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 và điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lường Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùi Văn L.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ