vanban.org

Bản án 01/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ, Bùi Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Dũng - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ, Bùi Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƯỚC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST
Ngày 15/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Đông – Giáo viên trường THCS và THPT Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

- Bà Trương Thị Quý – Chủ tịch Hội phụ nữ xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Anh D; Sinh ngày 03 tháng 10 năm 2007 tại xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Ben, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đào và bà Bùi Thị Sao; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Bùi Thành Đ; sinh ngày 30 tháng 01 năm 2008 tại xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Trung Thành, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Toàn và bà Bùi Thị Nhung; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: Bùi Anh T; sinh ngày 28 tháng 10 năm 2006 tại xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Trung Thành, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Thức và bà Nguyễn Thị Kiêu; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo:

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Anh D là bà Bùi Thị Sao, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Thôn Quý Tiến, xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Bùi Thành Đ là bà Bùi Thị Nhung, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Thôn Trung Thành, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Bùi Anh T là bà Nguyễn Thị Kiêu, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Thôn Trung Thành, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa:

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh D và Bùi Anh T là ông Lê Ngọc Hoàng – Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh số 2, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thành Đ là bà Lê Thị Thu Vân – Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh số 2, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tai phiên tòa).

Đại diện Trường THPT Hà Văn Mao, huyện Bá Thước, Thanh Hóa:

Ông Vũ Thế Viên– Bí thư Đoàn trường THPT Hà Văn Mao (Có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

- Anh Bùi Văn Yên; sinh năm: 2007.

Địa chỉ: Thôn Ấm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị hại.

- Bà Trương Thị Duyên, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn Ấm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

- Anh Bùi Nhật Long; Sinh năm: 2008.

Địa chỉ: Thôn Trung Thành, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Anh Trương Quốc Chiến; Sinh năm: 2006.

Địa chỉ: Thôn Són, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tại phiên tòa).

- Anh Trương Công Tài; Sinh năm: 2007.

Địa chỉ: Thôn Ấm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Anh Bùi Trương Viện; Sinh năm: 2006.

Địa chỉ: Thôn Ry, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tại phiên tòa).

- Anh Trương Văn Anh; Sinh năm: 2006.

Địa chỉ: Thôn Ry, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của người làm chứng.

- Người đại diện theo pháp luật của người làm chứng Bùi Nhật Long là ông Bùi Văn Uy, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn Trung Thành, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện theo pháp luật của người làm chứng Trương Công Tài là bà Trương Thị Liên, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn Ấm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 14/5/2024, Nguyễn Anh D, sinh ngày 03/10/2007 ở thôn Ben, xã Lương Nội; Bùi Văn Yên, sinh ngày 09/3/2007 ở thôn Ấm, xã Lương Nội; Quách Thị Anh Thơ, sinh ngày 24/8/2008 ở thôn Ry, xã Lương Nội; Bùi Quang Trung, sinh ngày 16/01/2006 ở thôn Đầm, xã Lương Nội đến nhà Bùi Ngọc Tiến, sinh ngày 06/5/2007 ở thôn Đầm, xã Lương Nội để dự sinh nhật của Tiến. Trong lúc dự sinh nhật, Dũng rót bia cho Yên, nhưng đầy quá, bị Yên chửi nên Dũng và Yên xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, Dũng gọi điện qua ứng dụng tin nhắn Messenger cho Trương Quốc Chiến, sinh ngày 01/9/2006 ở thôn Són, xã Lương Nội, nói cho Chiến biết việc mình xích mích với Yên và nhờ Chiến lên thôn Đầm giúp Dũng đánh Yên, Chiến đồng ý. Khi nói chuyện điện thoại với Dũng, Chiến đang ngồi ăn cơm, uống rượu tại nhà Bùi Anh T, sinh ngày 28/10/2006 ở thôn Trung Thành, xã Lương Trung cùng với Trương Công Tài, sinh ngày 28/7/2007 ở thôn Ấm, xã Lương Nội; Bùi Trương Viện, sinh ngày 29/10/2006, Trương Văn Anh, sinh ngày 08/7/2006 đều ở thôn Ry, xã Lương Nội; Bùi Nhật Long, sinh ngày 03/10/2008; Bùi Thành Đ, sinh ngày 30/01/2008 đều ở thôn Trung Thành, xã Lương Trung và do Chiến bật loa ngoài nên cả nhóm đều nghe nội dung câu chuyện của Dũng và Chiến. Sau đó, Chiến rủ cả nhóm lên thôn Đầm, xã Lương Nội giúp Dũng đánh Bùi Văn Yên, cả nhóm đồng ý.

Sau khi Chiến nói chuyện điện thoại với Dũng, Bùi Nhật Long cũng nhận được tin nhắn qua ứng dụng messenger từ Bùi Quang Trung với nội dung “nó định tán người yêu mày này” kèm theo hình ảnh Bùi Văn Yên đang gác chân lên đùi của Quách Thị Anh Thơ (Thơ là người yêu của Long). Long đưa bức ảnh đó cho cả nhóm xem và nói “người yêu em bị thằng Yên gác chân lên đùi trong sinh nhật”, đồng thời Long rủ cả nhóm lên thôn Đầm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa đánh Yên và cả nhóm đồng ý, nên sau khi ăn cơm xong, Tài, Viện, Anh, Tuấn, Đạt đã đi cùng Long và Chiến lên thôn Đầm, xã Lương Nội để đánh Bùi Văn Yên. Khi đi, Tài điều khiển xe mô tô BKS: 36G5-381.38 chở theo Chiến và Đạt; Viện điều khiển xe mô tô BKS: 36G5-366.09 chở theo Anh; Tuấn điều khiển xe mô tô BKS: 36G5-140.45 chở Long.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, Tuấn, Đạt, Long, Chiến, Tài, Viện, Anh lên đến thôn Đầm, xã Lương Nội và dừng xe đứng trước quán nước cạnh nhà Tiến, đợi Dũng ra để cùng đánh Yên. Lúc nhóm của Long lên đến nơi đã có Quách Thị Anh Thơ đứng chờ từ trước, sau đó có Nguyễn Anh D và Bùi Quang Trung từ trong nhà Tiến đi ra. Thấy Dũng, Long hỏi “ai đánh anh?”, Dũng trả lời “thằng Yên đang ở trong kia”. Khi cả nhóm gồm: Long, Dũng, Chiến, Đạt, Tài, Tuấn, Viện, Anh, Thơ, Trung đang đứng nói chuyện thì Bùi Văn Yên từ nhà Tiến đi ra và nói “có gì thế các anh?”. Nghe vậy, Dũng lao vào dùng tay không đấm vào vùng đầu của Yên, rồi Dũng ngã ra đường. Sau đó, Long cũng lao vào dùng tay không đấm Yên nhưng không trúng, rồi Long ngã ra đường. Bị đấm, Yên ôm đầu chạy về phần đường bên phải gần miệng cống (theo hướng đi xã Hạ Trung), thì bị Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ, Bùi Anh T lao đến đánh, Dũng dùng tay không đánh trúng vùng đầu Yên, Đạt lao vào đấm Yên nhưng không trúng, Bùi Anh T cũng lao vào dơ tay đấm Yên nhưng chưa kịp đấm thì Yên đã ngã xuống cống thoát nước, nên Tuấn dừng không đánh. Sau khi thấy Yên rơi xuống cống thoát nước, Đạt, Tuấn, Dũng dừng không đánh mà di chuyển về lề đường bên trái, nơi đang dựng xe mô tô. Về phần Bùi Nhật Long, khi thấy Tuấn, Đạt, Dũng lao vào đánh Yên gần miệng cống, Long cũng lao ra để đánh Yên nhưng bị Bùi Trương Viện ôm, ngăn lại. Khi Yên bò từ cống nước lên thì Long gạt tay Viện ra chạy đến dùng chân phải đá một cái vào phần mặt của Yên làm Yên ngã ngửa ra phía sau, đầu của Yên đập vào cột điện và bất tỉnh. Trong khi Long thực hiện hành vi đá Yên đập đầu vào cột điện, thì Viện chạy theo can ngăn Long, Tuấn, Tài, Đạt, Anh đứng nhìn về phía Yên, còn Chiến kéo tay Dũng ngăn không cho Dũng tiếp tục đánh Yên. Thấy Yên bất tỉnh, Dũng, Long, Chiến, Đạt, Tuấn, Tài, Viện, Anh lên ba chiếc xe mô tô đi về nhà. Còn Bùi Văn Yên được Trương Văn Nam, sinh năm: 1985 ở thôn Đầm, xã Lương Nội và Bùi Thái Sơn, sinh năm: 1989 ở thôn Ấm, xã Lương Nội đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Bá Thước.

- Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 15/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Bá Thước, xác định:

+ Hiện trường vụ án xảy ra tại đường Tỉnh lộ 523D, thuộc địa phận thôn Đầm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, là đoạn đường nhựa bằng phẳng, rộng 3,5m, có các hướng tiếp giáp như sau: Phía Đông là hướng đi xã Lương Trung, huyện Bá Thước, phía Tây là hướng đi xã Hạ Trung, huyện Bá Thước, phía Nam giáp với nhà Bùi Văn Thân, sinh năm 1989 và Hà Văn Hùng, sinh năm 1996, cùng trú tại thôn Đầm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, phía Bắc là khu vực đất trống, hai bên đường có cống thoát nước.

+ Tại phần đất trống phía bên phải đường theo hướng xã Lương Trung đi xã Hạ Trung, trên phần thân bề mặt lá cỏ có chất màu nâu đỏ (nghi máu) trong diện (30x22)cm. Vết cách mép đường nhựa bên phải (theo chiều Đông – Tây) 2,3m về hướng Bắc. Cách cột mốc H7/21 là 31,7m về hướng Tây – Bắc. Vết thấp hơn so với mặt đường là 50cm.

+ Tại vị trí đặt số 01, cách 10cm về hướng Tây có cột điện (dạng cột hình chữ H), kiểm tra trên bề mặt thân cột, tại vị trí mặt trước, cạnh ngoài bên trái có vết tỳ trượt làm sạch bụi kích thước (6x1)cm. Vết cao cách mặt đất 45cm.

+ Cách vị trí số 01 về hướng Tây Nam 2,10m là vị trí Bùi Văn Yên bị Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ và Bùi Nhật Long đánh.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bá Thước đã dùng 02 tăm bông thấm chất màu nâu đỏ (nghi máu) tại vị trí số 01 ở hiện trường và niêm phong, gửi giám định theo quy định.

- Kết quả thực nghiệm điều tra ngày 29/9/2024, tại thôn Đầm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, xác định:

+ Vị trí số 01 là vị trí Bùi Văn Yên bị Nguyễn Anh D dùng tay không đấm ngã xuống đường, vị trí cách nhà ông Bùi Văn Dương, sinh năm 1986, trú tại thôn Đầm, Lương Nội, 13m về phía Tây. Sau khi Dũng đấm Yên, Long cũng chạy đến đấm Yên tại vị trí số 01 nhưng không trúng rồi Long ngã ra đường.

+ Vị trí số 02: Là vị trí tại dải đất bên phải đường, tương ứng khu vực bên phải cống thoát nước (theo hướng xã Lương Nội đi Hạ Trung) là nơi Yên chạy đến sau khi bị Dũng, Long đánh, cách vị trí số 01 là 8,4m về phía Tây. Tại vị trí số 02, Đạt lao vào đấm Yên nhưng không trúng; Dũng dùng tay không đấm vào đầu Yên. Tuấn và Long cũng lao vào đánh nhưng Yên đã bị ngã xuống cống, nên không kịp đánh.

+ Vị trí số 03: Vị trí Long đá Yên ngã đập đầu vào cột điện. Vị trí Viện ôm Long, can ngăn không cho đánh Yên cách vị trí Yên đứng trước khi ngã vào cột điện là 5m.

- Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4880/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể: Đối chiếu Bảng 1 – Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn Yên như sau:

+ Sẹo vùng đỉnh - chẩm kích thước nhỏ: 01%;

+ Sẹo mặt trong 1/3 giữa cẳng tay trái kích thước trung bình: 02%;

+ Chảy máu dưới nhện dọc liềm đại não không còn hình ảnh tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh, không có di chứng thần kinh: 08%;

+ Ổ tổn thương não thùy trán trái, đường kính 02cm đến 05cm, không có di chứng thần kinh: 26%.

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Bùi Văn Yên tại thời điểm giám định là: 34% (ba mươi tư phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Bùi Văn Yên do vật tày gây nên.

- Tại Bản kết luận giám định số 2521/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất màu nâu đỏ, nghi máu gửi giám định (máu thu giữ tại hiện trường) là máu của Bùi Văn Yên.

- Thu giữ và xử lý vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bá Thước đã yêu cầu Nguyễn Anh D và Trương Quốc Chiến giao nộp điện thoại di động sử dụng để gọi điện rủ nhau đi đánh Bùi Văn Yên. Nhưng Chiến đã làm rơi điện thoại trên đường từ hiện trường về nhà, còn điện thoại của Nguyễn Anh D bị vỡ màn hình đã bán cho một người thu mua phế liệu qua đường. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bá Thước đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không tìm được hai chiếc điện thoại nêu trên. Đối với chiếc xe mô tô BKS: 36G5-140.45 do Bùi Anh T điều khiều khiển chở Bùi Nhật Long, qua xác minh Tuấn tự ý lấy xe của gia đình sử dụng, không được sự đồng ý của anh Bùi Văn Thức là chủ xe, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bá Thước đã bàn giao lại xe cho anh Thức.

- Về bồi thường thiệt hại:

Các bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Anh T, Bùi Thành Đ và các đối tượng Bùi Nhật Long, Trương Quốc Chiến, Trương Văn Tài, Trương Văn Anh, Bùi Trương Viện đã bồi thường cho bị hại Bùi Văn Yên tổng số tiền 150.000.000đ. Anh Yên và gia đình đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 51/CT-VKS-BT ngày 03/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước đã truy tố các bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ, Bùi Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ, Bùi Anh T thừa nhận bị truy tố về hành vi “Cố ý gây thường tích” như nội dung Cáo trạng là đúng, không oan sai.

Đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ, Bùi Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 50, 54, 58, 65, 90, 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo, cụ thể như sau:

- Bị cáo Nguyễn Anh D từ 14 tháng đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Bùi Thành Đ từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Bùi Anh T từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Bùi Văn Yên; Anh Yên, người đại diện theo pháp luật của anh Yên không có yêu cầu, đề nghị gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Bùi Anh T và Bùi Thành Đ được miễn án phí; Bị cáo Nguyễn Anh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo và người đại diện hợp pháp cho các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức đề nghị hình phạt đối với các bị cáo, tuy nhiên cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo vì khi phạm tội các bị cáo là người dưới 18 tuổi, độ tuổi mà chưa hoàn thiện tâm sinh lý, ý thức và hiểu biết phát luật, vì vậy hành vi của các bị cáo chỉ mang tính bột phát, tức thời, không lường trước được hậu quả. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã bồi thường khắc phục hậu quả và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xử các bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để các bị cáo có cơ hội sửa sai. Bị cáo Tuấn và Đạt là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hôi khó khăn nên đề nghị miễn án phí cho các bị cáo theo quy định.

Các bị cáo và người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo đồng ý với bản bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bá Thước, điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và biên bản khám nghiệm hiện trường; phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa hôm nay. Như vậy hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 14/5/2024, Trương Quốc Chiến và Bùi Nhật Long rủ các bị cáo Bùi Anh T, Bùi Thành Đ và các đối tượng Bùi Trương Viện, Trương Văn Anh, Trương Công Tài, đến thôn Đầm, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giúp bị cáo Nguyễn Anh D đánh Bùi Văn Yên và được cả nhóm đồng ý. Khi đến nơi, các bị cáo Tuấn, Đạt, Dũng có hành vi lao vào, dùng tay không đánh, gây thương tích cho Bùi Văn Yên; Bùi Nhật Long có hành vi dùng tay không đánh và dùng chân đá vào vùng mặt của Bùi Văn Yên, làm Yên ngã đập đầu vào cột điện. Hậu quả, Yên bị tổn thương cơ thể 34%. Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước truy tố các bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ và Bùi Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ. Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 là phù hợp.

Người bào chữa cho các bị cáo có quan điểm bào chữa: Khi thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại các bị cáo đều là những người dưới 18 tuổi, độ tuổi chưa hoàn thiện về tâm sinh lý, tính cách và hiểu biết phát luật còn hạn chế, hành vi của các bị cáo chỉ mang tính bột phát, tức thời, hùa theo đám đông, chưa có suy nghĩ chín chắn, chưa lường trước được hậu quả; các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Quan điểm của người bào chữa là có căn cứ nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về vai trò, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể giữa các đồng phạm, trong đó bị cáo Nguyễn Anh D là người khởi xướng chủ động gọi điện liên lạc lôi kéo các bị cáo khác cùng tham gia nên bị cáo Dũng giữ vai trò chính trong vụ án; Bị cáo Đạt và Tuấn tiếp nhận ý chí, thống nhất cùng nhau đi đánh anh Bùi Văn Yên và cùng tham gia thực hiện hành vi nên phải chịu trách nhiệm chung về hậu quả tổn thương cơ thể của Bùi Văn Yên. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bản thân các bị cáo đã đủ 16 tuổi trở lên, có nhận thức về hành vi của mình nhưng vẫn cố ý gây thương tích cho bị hại. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét về độ tuổi, nhân thân, nguyên nhân phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo đã thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án, bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, gia đình bị cáo Nguyễn Anh D có ông ngoại là người có công với cách mạng, do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để ấn định thời gian thử thách đồng thời giao các bị cáo cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú và gia đình các bị cáo giám sát giáo dục trong thời gian thử thách vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo và cũng phù hợp với điều 65 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo và những người liên quan đến vụ việc đã tự nguyện bồi thường 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho bị hại là anh Bùi Văn Yên, anh Yên và gia đình không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Các tình tiết khác của vụ án:

Đối với Bùi Nhật Long: Long là người rủ các đối tượng khác đi đánh Bùi Văn Yên, đồng thời là người thực hành tích cực, trực tiếp dùng tay không đánh Yên, dùng chân đá vào vùng mặt của Yên, làm Yên ngã đập đầu vào cột điện. Nhưng thời điểm thực hiện hành vi, Bùi Nhật Long chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự, Long chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên không xem xét xử lý hình sự đối với Bùi Nhật Long.

Đối với Trương Văn Anh, Trương Công Tài, Bùi Trương Viện và Trương Quốc Chiến: Cả bốn đối tượng đã tiếp nhận ý chí đi đánh Yên, nhưng đến nơi không tham gia đánh, riêng Viện có hành vi can ngăn không cho Long đánh Yên và Chiến can ngăn không cho Dũng đánh Yên, nên xác định hành vi của các đối tượng có tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể. Đồng thời, tại thời điểm thực hiện hành vi Tài, Anh, Viện và Chiến đều là những người chưa đủ 18 tuổi, nên căn cứ khoản 2 Điều 8 và Điều 91 Bộ luật Hình sự xác định hành vi của các bị cáo chưa đến mức phải truy cứu trách nhiện hình sự là phù hợp.

Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Anh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Bùi Anh T và Bùi Thành Đ là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên xét miễn án phí cho các bị cáo.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện của các bị cáo, người bào chữa của người dưới 18 tuổi, bị hại, người đại diện của bị hại có quyền kháng kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 50, 54, 58, 65, 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự.

Điều 331, 333, 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D, Bùi Thành Đ, Bùi Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Anh D cho UBND xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Bùi Thành Đ 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Bùi Anh T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Thành Đ và Bùi Anh T cho UBND xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Thành Đ và Bùi Anh T.

Bị cáo Nguyễn Anh D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện của các bị cáo, người bào chữa của người dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ