- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh Đ phạm tội Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-PT Ngày 02/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trung Thực và bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện K sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đ Thủy - K sát viên.
Ngày 02/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/HSPT ngày 06/11/2024 đối với bị cáo Lê Anh Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Anh Đ, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Quang H và bà Trần Thị Kim D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên, (có mặt).
- Bị hại:
+ Anh Lý Càn H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn Noong Cuồng, xã Phúc Sơn, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt).
+ Anh Đinh Văn Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản Tang Lang, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, (có mặt).
+ Anh Hà Văn Liên, sinh năm 1990. Địa chỉ: Bản Tà Ỉu, xã Pắc Ngà, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, (vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Đức D, sinh năm 2007; người đại diện hợp pháp của cháu D: Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1974 (là mẹ đẻ). Đều có địa chỉ: Thôn Ngô Xuyên, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, (đều vắng mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có 01 bị cáo và 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn K và Lê Anh Đ đều ở Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu sài K và Đ đã rủ nhau cùng đi cướp tài sản của người khác mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Từ ngày 13/12/2023 đến ngày 28/12/2023 K và Đ đã cùng nhau thực hiện hành vi cướp tài sản trên địa bàn Khu công nghiệp Phố Nối A và xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 13/12/2023, K và Đ đang ngồi chơi tại đoạn đường khu vực thuộc thôn Xuân Lội, xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cả hai rủ nhau ra Khu công nghiệp Phố Nối A, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xem có ai sơ hở thì cướp tài sản. K mở cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xanh, biển số 89L1-160.13, lấy ra 01 con dao dài 33 cm: chuôi dao bằng gỗ màu đỏ, lưỡi dao bằng kim loại, trên lưỡi dao đề chữ “TUYỂN THỦY” đã chuẩn bị từ trước đưa cho Đ. Đ cất dao vào trong chiếc áo khoác nỉ màu đen đang mặc rồi K điều khiển xe mô tô 89L1-160.13 chở Đ đi đến Khu công nghiệp Phố Nối A. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, K và Đ đi đến đoạn đường gần bãi rác ở cánh đồng thôn Ngải Dương, xã Đỉnh Dù thì thấy anh Hà Văn Liên ở bản Tà Ỉu, xã Pắc Ngà, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La đang đi bộ phía trước cùng chiều, trên tay đang sử dụng chiếc điện thoại Iphone 8 Plus 64G, màu đen. K điều khiển xe mô tô áp sát vào phía bên trái anh L. Khi đi qua anh L được khoảng 02m thì K dừng xe lại, Đ xuống xe, rồi lấy con dao đang cất trong người ra, cầm dao giơ lên ngang vai đi về phía anh L. Khi Đ đi đến cách anh L khoảng gần 01m, Đ nói “Đưa điện thoại đây”, anh L sợ nên đưa chiếc điện thoại Iphone 8 Plus 64G, màu đen, bên trong máy không lắp sim đang cầm trên tay cho Đ. Đ cầm điện thoại, rồi chạy về phía trước K đứng chờ. Thấy Đ chạy đến, K biết là đã cướp được điện thoại của anh L nên điều khiển xe tăng ga bỏ chạy, anh L sau khi bị cướp tài sản thì hô hoán “Cướp cướp”. Còn K và Đ sau khi cướp được điện thoại của anh L, Đ và K hẹn nhau chiều ngày 17/12/2023 mang bán chiếc điện thoại nói trên rồi cả hai về nhà. Khi mang điện thoại về nhà, Đ đã K tra phát hiện điện thoại không lắp sim, không cài Icloud, không có tin nhắn, cuộc gọi nào lưu trong máy nên Đ đã xóa hết dữ liệu và reset chiếc điện thoại này về nguyên bản ban đầu, rồi Đ lắp một chiếc sim (không nhớ số) vào trong chiếc điện thoại này nhằm mục đích khi bán được thuận lợi hơn. Khoảng gần 17 giờ ngày 17/12/2023, K điều khiển xe 89L1-160.13 chở Đ đến cửa hàng mua bán điện thoại Tỉnh Mobile ở thôn Nhạc Lộc, xã Trưng Trắc do anh Chu Xuân T, sinh năm 1990 ở thôn Nhạc Lộc làm chủ để bán cho anh Tỉnh được 2.300.000đ. Đ chia cho K 1.000.000đ, Đ 1.300.000đ cả hai tiêu sài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, K và Đ cùng nhau ăn đêm tại ở thôn Thị Trung, xã Đình Dù, huyện Văn Lâm. Sau khi ăn xong K điều xe 89L1-160.13 chở Đ đi về. Khi đi đến đoạn đường gần cổng Công ty Lioa ở thôn Đình Dù, xã Đình Dù thì cả hai thấy anh Nguyễn Đức D ở thôn Ngô Xuyên, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm đang điều khiển chiếc xe máy điện, nhãn hiệu Xmen, màu đen đi từ phía sau vượt qua. Lúc này, cả hai thấy anh D tay phải điều khiển xe, tay trái đang sử dụng chiếc điện thoại Iphone Xs Max, màu vàng nên cả hai nảy sinh ý định cướp tài sản của anh D. K dừng xe lại, mở cốp xe ra đưa cho Đ cầm 01 con dao dài 33 cm: chuôi dao bằng gỗ màu đỏ, lưỡi dao bằng kim loại có chữ “TUYÊN THỦY”, rồi K điều khiển xe tăng tốc đuổi theo anh D. Khi đuổi theo đến ngang dốc lên cầu vượt Như Quỳnh thuộc thôn Đình Dù thì đuổi kịp, K điều khiển xe ép đầu xe anh D vào rìa đường bên phải rồi dừng xe lại khiến anh D phải dừng lại. Sau đó, Đ xuống xe, tay phải Đ cầm dao giơ ngang người đi đến đứng sát người anh D, rồi Đ nói “Đưa điện thoại đây”. Anh D sợ vứt điện thoại đang cầm trên tay sang phía bên trái rơi xuống đường, Đ nhặt chiếc điện thoại rồi lên xe mô tô, K điều khiển xe tăng ga đi với tốc độ cao bỏ chạy. Trên đường đi Đ đã tháo sim và tắt nguồn điện thoại. Sau đó Đ và K mang điện thoại về cất dấu tại khu lăng mộ họ Trần ở thôn Ngải Dương, xã Đình Dù rồi cả hai về nhà. Đến 17 giờ cùng ngày, K điều khiển xe 89L1 - 160.13 chở Đ đi đến nơi cất giấy điện thoại lúc trước lấy chiếc điện thoại mang bán. Sau đó, K điều khiển xe 89L1-160.13 chở Đ đến cửa hàng mua bán điện thoại Lê Tuấn ở tổ dân phố Đại Tự, phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh do anh Lê Sỹ Minh, sinh năm 1986 ở thôn Cửu Yên, xã Ngũ Thái, thị xã Thuận Thành làm chủ, bán cho anh Minh được 2.800.000đ. Đ chia cho K 1.000.000đ, Đ 1.800.000đ, cả hai tiêu sài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 22/12/2023, K và Đ tiếp tục rủ nhau đến Khu công nghiệp Phố Nối A để cướp tài sản, K điều khiển xe 89L1 - 160.13 chở Đ đến đoạn đường Nội Đồng thuộc thôn Hoằng, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm giáp Khu công nghiệp Phố Nối A thì dừng lại. K mở cốp xe lấy con dao mang theo những lần trước rồi K giấu dao vào cạp quần phía sau. Sau đó, cả hai ngồi ở rìa đường để đợi xem có ai có tài sản đi qua thì cướp. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, cả hai thấy anh Đinh Văn Đ ở bản Tang Lang, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh - đen, biển số 26D1-428.73 đang đi từ hướng thôn Hoằng về thôn Ngải Dương, xã Đình Dù. Thấy vậy, Đ liền điều khiển xe mô tô chở K đi về hướng thôn Hoằng để đuổi theo anh Đ, khi đi được khoảng 15m thì Đ điều khiển xe đi chậm lại đối đầu với xe của anh Đ thì anh Đ dừng xe lại. K xuống xe đi đến sát anh Đ, tay phải K cầm dao giơ lên ngang người hướng mũi dao về phía anh Đ, rồi nói “Đưa điện thoại đây”, anh Đ sợ, lấy từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, màu đen. K bảo anh Đ mở mật khẩu màn hình điện thoại ra cho K xem thì anh Đ mở mật khẩu màn hình điện thoại ra cho K xem thì K biết mật khẩu mở màn hình điện thoại là hình chữ “T”. K cầm điện thoại, lúc này Đ cũng xuống xe đi đến gần vị trí K và anh Đ. K đưa điện thoại vừa chiếm đoạt được của anh Đ cho Đ cầm. Rồi hỏi anh Đ “Có tiền không”, anh Đ nói “Còn 40.000 đồng trong cốp”, K yêu cầu anh Đ xuống xe. Anh Đ lùi về phía sau xe mô tô của anh Đ khoảng hơn 05m. Lúc này, Đ quay lại đi đến điều khiển xe mô tô của K, còn K điều khiển xe mô tô của anh Đ. Khi đi được khoảng 50m thì K hẹn Đ gặp nhau ở nghĩa trang thôn Thị Trung, xã Đình Dù. Khi đến nghĩa trang thôn Thị Trung thì K mở cốp xe vừa chiếm đoạt được của anh Đ ra thấy bên trong cốp có 01 chiếc ví giả da, màu nâu. trong ví đựng: 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm xe 26D1-428.73; 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Văn Đ, 01 Giấy phép lái xe hạng A2 và 01 Giấy phép lái xe hạng B2 đều tên Đinh Văn Đ. Sau đó, K sử dụng phụ tùng có sẵn trong cốp xe mô tô của anh Đ để tháo dời biển số 26D1- 428.73 ra khỏi xe, cất biển số xe vào trong cốp. Còn Đ cầm điện thoại của anh Đ tháo sim, tắt nguồn điện thoại. Sau đó, cả hai đi về nhà K, trên đường đi Đ đã vứt chiếc sim điện thoại đi. Khi về đến nhà K, thì cả hai để xe của anh Đ và của K ở sân nhà K, rồi Đ mang theo điện thoại vừa chiếm đoạt được đi bộ về nhà, còn K lên phòng của K để ngủ. Khi Đ về đến nhà, Đ lấy điện thoại của anh Đ ra xóa hết dữ liệu và reset chiếc điện thoại này, rồi cất ở phòng ngủ của Đ. Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, K điều khiển xe 89L1-160.13 đến cầu Ngọc Lịch ở thôn Ngọc Lịch, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm mở chiếc ví giả da màu nâu vừa cướp được giữ lại: 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm xe và 01 Căn cước công dân mang tên Đinh Văn Đ rồi vứt chiếc ví giả da này cùng với 01 Giấy phép lái xe hạng A2 và 01 Giấy phép lái xe hạng B2 đều mang tên Đinh Văn Đồng, xuống sông Bắc Hưng Hải, sau đó K đi về ngủ. Đến khoảng 04 giờ 20 phút ngày 23/12/2023, K điều khiển xe vừa chiếm đoạt được của anh Đ chở Đ để đến khu vực thành phố Hải Dương để bản xe. Trên đường đi K đã lắp biển số tháo ra từ hôm trước vào xe, khoảng hơn 08 giờ 00 phút cùng ngày, cả hai đi đến cửa hàng mua bán xe máy Việt Chiến ở số nhà 303, đường Nguyễn Thị Duệ, phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương do anh Ngô Văn Chiến làm chủ. K và Đ mang xe vào bán cho anh Chiến được 12.800.000₫ còn căn cước công dân của anh Đ trên đường đi K đã vứt đi (không nhớ vứt ở đâu), số tiền K bán xe chiếm đoạt K trả tiền taxi (không rõ tên, địa chỉ) hết 450.000 đồng còn lại K chia cho Đ số tiền 5.000.000 đồng, K 7.390.000đ cả hai tiêu sài cá nhân hết. Ngày 24/12/2024, Đ cho ông Lê Quang H ở thôn Xuân Lôi (là bố đẻ của Đ) chiếc điện thoại chiếm đoạt được của anh Đ để ông Hoàng sử dụng.
Vụ thứ tư: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 28/12/2023, K đi xe 89L1-160.13 đón Đ ở đường Khu Xuân Lôi để cùng nhau đi cướp tài sản. Trước khi đi K tháo hai chiếc gương chiếu hậu đang gắn ở xe cất vào trong cốp xe. Đến khoảng 02 giờ 05 phút cùng ngày, khi K và Đ đang ở đường A5 gần cổng Công ty Dorcovina thuộc Khu Công nghiệp Phố Nối A, thì thấy ở rìa đường có anh Lý Càn H hộ khẩu thường trú thôn Noong Cuồng, xã Phúc Sơn, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang đang ngồi trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh - bạc, biển số 22L1-003.81 và anh Bàn Thanh Nam ở thôn Nà Chao, xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang cùng đang đỗ xe và ngồi trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 99B1 - 479.77, nói chuyện với nhau. K điều khiển xe đi đến cách anh H và anh Nam khoảng 05m thì dừng xe lại. Đ xuống xe đi đến nói “Chúng mày đứng đây làm gì đấy”, anh H đi ra khỏi xe thì Đ đi đến dùng chân phải đá một phát trúng vai và đạp một phát trúng vào bụng, anh H lùi lại về sau. Đồng thời, K mở cốp xe mô tô của K lấy ra con dao có chữ “TUYÊN THỦY”, tay phải cầm dao đi đến đúng đối diện cách anh H khoảng 03 - 04m để đe doạ, anh H sợ nên để xe mô tô lại, bỏ chạy về hướng Đồn Công an khu công nghiệp Phố Nối A, còn anh Nam điều khiển xe: 99B1-479.77 về hướng thôn Nhạc Miếu, xã Lạc Hồng. K lấy chiếc xe 22L1-003.81 của anh H, rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi về hướng thôn Xuân Lôi, còn Đ điều khiển xe mô tô của K đi theo sau. Anh H bỏ chạy được khoảng 10m, quay lại hô “Cướp, cướp”, rồi chạy đuổi theo K và Đ. Khi chạy đến ngã tư đường A5 thì anh H gặp anh Nam đi đến, anh H nói “Nam ơi bị cướp xe rồi” thì anh Nam điều khiển xe mô tô chở anh H đuổi theo K và Đ. Khi đuổi đến khu vực ngã ba gần Trạm y tế xã Đình Dù, Đ điều khiển xe mô tô rẽ trái đi đến nghĩa trang thôn Thị Trung, xã Đình Dù, còn K điều khiển xe mô tô đi về hướng chợ mới thôn Đình Dù, thì anh Nam tiếp tục điều khiển xe chở anh H đuổi theo K đến khu vực thôn Đình Dù, xã Đình dù thì anh H và anh Nam đuổi kịp K nên đã đâm xe mô tô vào phía sau xe của K làm 02 chiếc xe mô tô đổ ra đường. K đứng dậy bỏ lại xe mô tô của anh H, bỏ chạy đến đầu nghĩa trang thôn Thị Trung thì gặp Đ. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô của K chở K đi về. Khi đi đến đường Khu ở thôn Xuân Lôi thì Đ dừng xe lại, K mở cốp xe cất con dao vào trong cốp, và lắp gương chiếu hậu vào xe rồi điều khiển xe đi về nhà ông Đỗ Văn Tuệ ở thôn Đình Dù để cất xe 89L1-160.13m ở sân, rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 19 giờ ngày 29/12/2023, bà Phan Thị Yến (mẹ K) mang chiếc xe 89L1-160.13 về nhà và K mở cốp xe mang dao vào trong bếp cất giấu.
Sau khi bị cướp tài sản, anh Lý Càn H, anh Hà Văn Liên, anh Nguyễn Đ Duy, anh Đinh Văn Đ có đơn trình báo đến Công an xã Đình Dù và Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Lâm. K, Đ bị phát hiện.
Ngày 31/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Anh Đ tại thôn Xuân Lôi, xã Đình Dù, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Khám xét chỗ ở của Đỗ Văn K tại thôn Xuân Lôi, xã Đình Dù thu giữ: 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen, bằng vải nỉ, hai bên tay áo có hai sọc kẻ dọc theo tay áo màu vàng; 01 chiếc quần dài màu đen, bằng vải, hai bên ống quần có hai sọc kẻ dọc theo ống quần màu vàng; 01 chiếc áo thu đông dài tay, màu trắng, phía trước ngực đề chữ “XL”, phía sau lưng đề chữ “MLBUKE”. 01 đôi găng tay bằng len màu xám - đen, mặt găng tay có hoa văn màu đen trắng. 01 bịt tai màu đen. 01 con dao dài 33 cm: chuôi dao bằng gỗ màu đỏ, dài 10cm; lưỡi dao dài 23cm, bản rộng lưỡi dao 5,5cm, trên lưỡi dao đề chữ “TUYẾN THÚY”. 01 đôi giầy bằng vải kẻ ca rô màu trắng - đen - đỏ, mặt trên giày đề chữ “DOLCE& GABBANA”, để giày bằng cao su màu trắng. 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh - vàng, biển số 89L1-160.13, số khung: 4500DX669752, số máy: JF45E0330432, xe gắn hai gương chiếu hậu. Bên trong cốp xe mô tô: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mộ tô, xe máy số: 00134, mang tên chủ xe là: Phan Thị Yến.
Ngày 31/12/2023, Lê Anh Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Lâm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu bạc, số IMEI: 359305060167046, bên trong máy lắp số thuê bao 0325526052; 01 chiếc áo khoác nỉ có mũ nối liền áo, màu đen; 01 chiếc quần nỉ, màu đen, túi quần bên trái phía trước và túi quần bên phải phía sau đều đề chữ “DIOR”; 01 đôi dép lê, màu đen, trên mặt dép đề chữ “BLUE AND WHITE”.
Tại kết luận định giá tài sản số 01 ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Văn Lâm, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh - bạc, số khung: RLHJA3924NY457720, số máy: JA39E2890900 BKS: 22L1-003.81 có giá trị là: 15.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 07 ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Văn Lâm, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XsMax 64G, màu vàng có giá trị là: 4.500.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 10 ngày 21201/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Văn Lâm, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh - đen, số máy: JA52E0535255, số khung: RLHJA385XPY207249, BKS: 26D1 - 428.734 có giá trị là: 17.000.000 đồng. Chiếc điện thoại samsung A23 có giá trị là: 2.500.000 đồng.
Đối với chiếc sim thuê bao trên không xem xét tiến hành định giá do thuê bao đăng ký lại được và chiếc sim điện thoại không có giá trị để định giá. Đối với chiếc ví có đặc điểm nêu trên, Hội đồng định giá tài sản từ chối thực hiện định giá tài sản. Lý do: tài sản cần định giá chưa thu giữ được, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có năm sản xuất, không có hóa đơn chứng từ kèm theo. Vì vậy, Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở để xác định giá trị tài sản.
Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Văn Lâm, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus 64G, màu đen, số IMEI: 353009092711252 có giá trị là: 3.300.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Lâm đã sao lưu, trích xuất 04 tệp video từ đầu thu camera ghi hình có liên quan đến vụ án trên tại thời điểm ngày 28/12/2023. Ngày 14/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Lâm ra Quyết định trưng cầu giám định hình ảnh 04 tệp video trên được lưu trữ vào trong 03 đĩa DVD trong phong bì thư niêm phong, có chữ ký của những người liên quan, kí hiệu là “B1”. Tại bản kết luận giám định số: 82/KL-KTHS(KTS) ngày 27/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên đối với 04 tệp video trên. Kết luận Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 file video trong mẫu niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định. Trích xuất hình ảnh phương tiện, những người có mặt trong 04 tệp video và phân tích diễn biến hành vi, mô tả đặc điểm của các đối tượng trên và xác định các đối tượng trên mang theo đồ vật, tài sản gì và phóng to, in thành hình ảnh màu đồ vật, tài sản theo (Có bản ảnh gồm: 05 tờ giấy A4 kèm theo).
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại một số tài sản cho chủ sở hữu gồm: Trả cho chị Lý Thị Nhệ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS: 22L1
- 003.81; trả cho anh Đinh Văn Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A23, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh - đen, BKS: 26D1 - 428.734; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 26008903 do Công an huyện huyện Phù Yên cấp mang tên Đinh Văn Đ; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe mô tô - xe máy, xe máy điện số 893422413428/XMBB.10 BKS: 26D1-428.73; trả cho anh Nguyễn Đ Duy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XsMax 64G,; trả lại cho anh Hà Văn Liên 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus 64G; trả cho chị Phan Thị Yến 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh - vàng, BKS: 89L1-160.12, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy
Đối với các anh Chu Xuân Tinh, Lê Sỹ Minh, Ngô Văn Chiến, Lê Quang H khi mua, sử dụng điện thoại và xe máy do Đ và K mang bán đều không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với số tiền 2.300.000 đồng mà anh Chu Xuân Tinh sử dụng để mua chiếc điện thoại trên thì anh Tinh yêu cầu bị can Đ và K phải bồi thường cho anh Tinh đủ số tiền trên. Quá trình điều tra, gia đình của bị can Đ đã trả số tiền 1.300.000 đồng cho anh Tinh. Sau khi nhận đủ số tiền trên của gia đình bị can Đ thì anh Tinh không yêu cầu, đề nghị gì đối với bị can Đ, anh tiếp tục yêu cầu K phải bồi thường. Anh Lê Sỹ Minh yêu cầu mỗi bị can phải bồi thường 1.400.000 đồng. Quá trình điều tra, gia đình của bị can Đ đã trả số tiền 1.400.000 đồng cho anh Minh. Anh Ngô Văn Chiến yêu cầu bị can K trả số tiền 7.800.000 đồng, bị can Đ trả số tiền 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra, gia đình của bị can Đ đã trả số tiền 5.000.000 đồng cho anh Chiến còn K chưa bồi thường.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 120/2024/HS-ST ngày 27/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm đã quyết định:
Căn cứ: Điểm d Khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 48; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo K áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình.Đối với bị cáo Đ áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự).
Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Văn K, Lê Anh Đ đều phạm tội Cướp tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn K 11 (mười một) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 04/01/2024.
Xử phạt: Bị cáo Lê Anh Đ 10 (mười) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 04/01/2024.
Ngoài ra bản án còn quyết định về các biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07 tháng 10 năm 2024, bị cáo Lê Anh Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Lê Anh Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại anh Đinh Văn Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện K sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Trong vụ án này, bị cáo Đ có vai trò thứ yếu, phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo, bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, so với bị cáo K mức hình phạt 10 năm tù đối với bị cáo Đ là có phần nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương; bị hại anh Đinh Văn Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa anh Đ trực tiếp xác nhận xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh Đ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm hình phạt cho bị cáo Đ từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Bị cáo Lê Anh Đ kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Anh Đ nhận tội và khai báo thành khẩn. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trước cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/12/2023 đến ngày 28/12/2023 tại địa bàn xã Đình Dù, xã Lạc Đạo và Khu Công Nghiệp Phố Nối A thuộc xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Đỗ Văn K và Lê Anh Đ đã cùng nhau 4 lần thực hiện hành vi dùng dao đe dọa để cướp các tài sản gồm: 03 chiếc điện thoại di động (01 chiếc Iphone 8 Plus 64G, 01 chiếc Iphone XsMax 64G, 01 chiếc Samsung A23) và 02 chiếc xe mô tô (01 chiếc Honda Wave RSX, màu xanh - đen, BKS 26D1 - 428.734; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh - bạc, BKS: 22L1 - 003.81) của các anh Hà Văn Liên, Nguyễn Đ Duy, Đinh Văn Đ và Lý Cản Hùng, có tổng giá tài sản là 42.300.000 đồng và 40.000 đồng.
Bởi các hành vi nêu trên nên Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Anh Đ, Đỗ Văn K về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Anh Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân trong việc bảo vệ tài sản của mình nên cần phải xử lý nghiêm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, so với bị cáo K mức hình phạt 10 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc.
Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương; bị hại anh Đinh Văn Đ có đơn và có mặt tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo như quan điểm của Viện K sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Lê Anh Đ được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; điểm điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 120/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Anh Đ 08 (Tám) năm tù về tội Cướp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
2. Về án phí: Bị cáo Lê Anh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ KTGĐ I - TAND tối cao; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yê - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên; - TAND,VKSND, CA huyện Văn Lâm; - Chi cục THADS huyện Văn Lâm; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |