- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thân N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Thân N.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-PT Ngày: 08-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Nguyên;
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Khánh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 176/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Phan Thân N do có kháng cáo của bị cáo Phan Thân N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Thân N, sinh ngày 04/5/1994 tại tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn T, sinh năm: 1973 và bà: Thân Thị P, sinh năm 1977; Vợ: Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1995, con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/11/2021 bị Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Bình Định ra quyết định xử lý vi phạm hành chính số tiền 2.750.000đ về hành vi “Hủy hoại tài sản của người khác” (Bị cáo chưa nộp tiền phạt nhưng hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và không thuộc trường hợp cố tình trì hoãn, trốn tránh). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 13/6/2024, Phan Thân N điều khiển xe mô tô 77X3-4074 đi từ nhà đến thị xã A, tỉnh Bình Định tìm nhà dân sở hở để lấy trộm tài sản. Đến khoảng 03 giờ ngày 14/6/2024, khi đi ngang qua nhà chị Thái Thị Ái V, sinh năm 1997, ở thôn T, xã N, thị xã A thấy tầng 1 còn bật đèn điện sáng và cửa ra vào không khóa, mọi người trong nhà đã đi ngủ. Phan Thân N cất giấu xe, đi bộ đến trèo qua tường rào trước cỗng ngõ vào nhà tìm tài sản để lấy trộm. Phan Thân N đi đến phòng thờ lấy 01 túi xách da, lục tìm tài sản nhưng không có nên vứt túi xách tại cầu thang. Phan Thân N đến phòng ngủ lấy 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro màu đen của chị Thái Thị Ái V đang để trên giường nệm và lấy số tiền 2.103.000 đồng cất trong ví da của ông Thái Văn H (cha chị Thái Thị Ái V). Phan Thân N quay lại phòng thờ lấy 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, màu vàng của bà Nguyễn Thị L (mẹ chị Thái Thị Ái V) đang để trên kệ gỗ, rồi theo lối đã đột nhập vào tẩu thoát. Trên đường về, Phan Thân N lấy 02 điện thoại di động vừa trộm được ra tắt nguồn, tháo vứt 02 thẻ sim.
Đến khoảng 09 giờ ngày 14/6/2024, Phan Thân N dùng tài khoản facebook “Bao Đại Nhân” lên mạng xã hội tìm kiếm, liên hệ với tài khoản facebook “Táo Bến Tre” của Nguyễn Đức T2, sinh năm 1996, ở 2 Đ, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (làm nghề mua bán, sửa chữa điện thoại) thỏa thuận bán 02 chiếc điện thoại di động trên với giá 4.000.000 đồng. Nguyễn Đức T2 thông qua mạng xã hội facebook liên hệ, thuê Thái Văn D, sinh năm 1992, ở thôn A, xã B, huyện T đi nhận, ký gửi 02 chiếc điện thoại trên với mức thù lao 400.000 đồng. Nguyễn Đức T2 cung cấp địa chỉ, số điện thoại của Phan Thân N và chuyển cho Thái Văn D số tiền 4.000.000 đồng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, Thái Văn D đến gặp Phan Thân N rồi gọi cho Nguyễn Đức T2 xác nhận, giao tiền và nhận 02 chiếc điện thoại di động trên mang đến cửa hàng V1 gửi vào Thành phố Hồ Chí Minh cho Nguyễn Đức T2.
- Ngày 21/6/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A đã kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, màu đen dung lượng 64GB (đã qua sử dụng) tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá: 7.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng dung lượng 256GB (đã qua sử dụng) tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá: 16.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 25.603.000 đồng.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Thanh T1 (vợ bị cáo Phan Thân N) đã bồi thường cho bị hại Thái Thị Ái V số tiền 2.103.000 đồng. Bị hại Thái Thị Ái V đã bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Anh Nguyễn Đức T2 đã được chị Phạm Thị Thanh T1 trả lại 4.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phan Thân N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Thân N 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, về xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 01/10/2024 bị cáo Phan Thân N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thân N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau: khoảng 03 giờ ngày 14/6/2024, Phan Thân N lén lút đột nhập vào nhà chị Thái Thị Ái V lấy 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro màu đen của chị Thái Thị Ái V; 2.103.000 đồng cất trong ví da của ông Thái Văn H (cha chị Thái Thị Ái V), lấy 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, màu vàng của bà Nguyễn Thị L (mẹ chị Thái Thị Ái V). Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 25.603.000 đồng. Do đó, Toà án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định đã kết án bị cáo Phan Thân N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Phan Thân N đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính 2.750.000 đồng về hành vi “Huỷ hoại tài sản”, nhưng bị cáo chưa nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên đến nay bị cáo vẫn chưa nộp phạt, tuy nhiên đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên bị cáo được xem là chưa có tiền sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, lại không có ý thức chấp hành pháp luật, bản thân lười lao động lại muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo không đủ thức tỉnh ý thức chấp hành pháp luật, nên lần phạm tội này Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đặc điểm nhân thân và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 09 tháng tù là đúng quy định pháp luật, đủ sức răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Do đó, hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thân N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định.
Về án phí: Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Thân N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thân N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Thân N.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Thân N 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Thân N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1.TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT Công an thị xã A; - Cơ quan THAHS Công an thị xã A; - Chi cục THADS thị xã A; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Xuân |