- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành N về tội sử dụng mạng ... nhằm chiếm đoạt tài sản - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực h…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HS-PT Ngày: 06-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Võ Thị Ngọc Dung
Các Thẩm phán:
Ông Phùng Anh Dũng
Ông Phạm Văn Hợp
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Luyện, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa phúc thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 547/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thành N (Tên gọi khác: Ryn); sinh ngày 22/02/1995, tại Kon Tum; Nơi cư trú: 174 Phan Đình Phùng, phường Ngô Mây, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng T (sinh năm 1968) và bà Nguyễn Thị Ngọc L (sinh năm 1971); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Đào Thị Tú O có cha ruột là ông Đào Đức. Do ông Vinh làm ăn kinh dO và sinh sống tại nước Lào nên để thuận tiện cho việc chuyển, nhận tiền kinh dO giữa Lào và Việt Nam thì chị O sử dụng ứng dụng ví điện tử Timo của Ngân hàng VPBank (số tài khoản ngân hàng: 165551699) và đồng thời đưa tài khoản, mật khẩu của chị O cho ông V cùng sử dụng chung. Khoảng tháng 5 năm 2019, chị O và Nguyễn Thành N có quan hệ yêu đương với nhau. Chị O thường qua phòng trọ của N tại địa chỉ số 23 đường Lê Thanh Nghị, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để chơi và ngủ lại. Đến khoảng tháng 9 năm 2019, có lần N nghe được chị O nói chuyện điện thoại với ông Vinh về tài khoản đăng nhập ứng dụng ví điện tử Timo của chị O là "TuO 109" và mật khẩu là "55656533”.
Ngày 01/11/2019, N chơi cá cược trên mạng bị thua số tiền 2.000.000 đồng. Tối ngày 02/11/2019, chị O đến phòng trọ của N chơi và ngủ lại. Lúc này, trong phòng trọ có Nguyễn Quốc Cảnh là bạn cùng phòng với N. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, thấy O và Cảnh đã ngủ say, N nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản ví điện tử Timo của chị O để chơi cá cược trên mạng gỡ lại số tiền đã thua. N lấy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5 của chị O (để cạnh đầu O đang ngủ), mở mật khẩu điện thoại của chị O (trong thời gian yêu nhau, chị O cài đặt mật khẩu mở khóa điện thoại và tài khoản ngân hàng bằng dấu vân tay của chị O và N). Sau đó, N vào ứng dụng ví điện tử Timo đăng nhập bằng tài khoản "TuO 109" và mật khẩu "55656533" của chị O, kiểm tra trong tài khoản của chị O có hơn 127.000.000 đồng. N thao tác chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ ví điện tử Timo (tài khoản ngân hàng VPBank số 165551699) của chị O sang tài khoản ngân hàng TPBank của N (số 02850829701) nhưng không thực hiện được do bị lỗi. Tiếp đó, trong khoảng thời gian từ 23 giờ 30 phút ngày 02/11/2019 đến 05 giờ ngày 03/11/2019, N thực hiện liên tục 05 lần giao dịch chuyển tiền từ tài khoản ví điện tử Timo (tài khoản ngân hàng VPBank số 165551699) của chị O sang tài khoản ngân hàng MB Bank của chị O (số 3020166177199) với tổng số tiền 127.000.000 đồng. Sau đó, N vào ứng dụng ngân hàng MB Bank trên điện thoại của chị O thực hiện 05 lần giao dịch chuyển toàn bộ số tiền trên đến tài khoản ngân hàng TPBank của N. Cụ thể: Lần 1 số tiền 10.000.000 đồng; lần 2 số tiền 17.000.000 đồng; lần 3 số tiền 20.000.000 đồng; lần 4 số tiền 30.000.000 đồng; lần 5 số tiền 50.000.000 đồng.
Số tiền chiếm đoạt của chị O, N đã sử dụng nạp vào tài khoản cá cược trên trang Web W88.com và chơi thua hết. Đến sáng ngày 03/11/2019, N nhắn tin cho chị O biết về việc N đã chiếm đoạt số tiền trên của chị O.Forbiddenhttp://W88.comforbidden.w88in.com. Sau đó, chị O đã đến Công an phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trình báo sự việc: Nguồn gốc số tiền 127.000.000 đồng N chiếm đoạt trên tài khoản ví điện tử Timo của chị O là của ông Đào Đức Vinh gửi nhờ vào tài khoản ví điện tử Timo của chị O mục đích để kinh dO.
*Tang vật, đồ vật thu giữ của Nguyễn Thành N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo FS do bị cáo sử dụng để phạm tội. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Đào Thị Tú O.
*Về Dân sự: Gia đình của Nguyễn Thành N đã khắc phục toàn bộ số tiền 127.000.000 đồng cho ông Đào Đức Vinh. Ông Vinh, chị O không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thành N.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
2. Căn cứ Điểm b, đ khoản 2 Điều 290, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) .
Xử phạt Nguyễn Thành N 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/9/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa đề nghị: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ ràng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, giải quyết vụ án có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, vì gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động chính phụng dưỡng ông bà nội đã nuôi dưỡng bị cáo từ nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: ngày 26/9/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo. Kháng cáo của bị cáo đảm bảo còn trong thời hạn luật định, đúng hình thức theo quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
. Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đối chiếu với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 23 giờ 30 phút ngày 02/11/2019 đến 05 giờ ngày 03/11/2019, tại phòng trọ số 23 đường Lê Thanh Nghị, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thành N đã có hành vi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5, sử dụng thông tin về tài khoản ví điện tử Timo (của ngân hàng VPBank) của chị Đào Thị Tú Ochuyển khoản số tiền 127.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng MBBank của chị O, tiếp đó N đã sử dụng thông tin về tài khoản ngân hàng MBBank (trên ứng dụng điện thoại) của chị Đào Thị Tú Othực hiện 05 lần chuyển số tiền 127.000.000 đồng trên vào tài khoản ngân hàng TPBank của N để chiếm đoạt và sử dụng vào việc cá cược trên mạng và thua hết.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết bị cáo tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo N không có tình tiết tăng nặng, hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình khắc phục lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 xử phạt bị cáo 21 tháng tù là có xem xét. Xét, tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, lợi dụng sự tin tưởng của chị Tú O là người yêu (cài đặt mật khẩu mở khóa điện thoại và tài khoản ngân hàng bằng dấu vân tay của chị O và N) N dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội, số tiền chiếm đoạt bị cáo đã khắc phục toàn bộ và tại phiên tòa phúc thẩm bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, cha mẹ bị cáo ly hôn, từ nhỏ sống với ông bà nội, nay ông bà nội già yếu, bị cáo là lao động duy nhất chăm sóc nuôi dưỡng ông bà nội, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt tù là phù hợp.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thành N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
3. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thành N không phải nộp.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV – Công an thành phố Đà Nẵng; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - Cục THADS thành phố Đà Nẵng; - Bị cáo; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Thị Ngọc Dung |