- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trang xin ly hôn anh Khôi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Linh T về việc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ - ST Ngµy 10 - 01 - 2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ M
Ông Vũ Hùng T
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phùng Thị Hoàng Q - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 328/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Linh Tr, sinh năm 1995;
ĐKHKTT: Tổ 23, khu 3, phường D, thành phố V, tỉnh P.
Chỗ ở hiện nay: 73 Phó Đ, phường V, thành phố Nh, tỉnh Kh.
- Bị đơn: Anh Dương Tiến K, sinh năm 1994;
ĐKHKTT: Tổ 23, khu 3, phường D, thành phố V, tỉnh P.
(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng trong đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 30/10/2024 chị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Tiến K tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 03/3/2018 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố V, tỉnh P. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh K không để ý đến vợ con, vợ chồng hay bất đồng trong quan điểm sống, mặc dù chị cũng đã cố gắng trao đổi để giải quyết nhưng không có kết quả, các mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng không thể hòa hợp được. Chị và anh K đã sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay. Chị nhận thấy đời sống hôn nhân trở nên căng thẳng, nặng nề và không có hạnh phúc nên chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Dương Tiến K
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là Dương Tiến Gia Bảo, sinh ngày 22/6/2019 và Dương Bảo Linh, sinh ngày 12/10/2022. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Dương Tiến K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do.
Ngày 20/11/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh tại khu dân cư thuộc tổ 23, khu 3, phường D, thành phố V, tỉnh P nơi anh Dương Tiến K sinh sống thì được mẹ đẻ anh K là bà Nguyễn Thị Kim Chung cũng như đại diện chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau:
Bà Nguyễn Thị Kim Chung cho biết: Anh Dương Tiến K là con trai của bà và hiện sinh sống cùng bà tại số nhà 276, đường Trần Phú, tổ 23, khu 3, phường D, thành phố V, tỉnh P nhưng do công việc anh K là lao động tự do nên lúc có mặt ở nhà, có lúc không. Thời điểm anh K về nhà là từ tháng 02/2024 từ đó đến nay anh K chưa về nhà lần nào mà chỉ liên lạc với bà bằng điện thoại. Thời điểm gần đây nhất anh K có gọi điện về cho bà có nói là có giấy báo và Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thành phố V về việc chị T xin ly hôn và bà có bảo anh K thu xếp công việc để về giải quyết nhưng không thấy anh K về. Bà có hỏi cụ thể nơi anh K làm việc nhưng anh không nói cho bà biết. Nay Tòa án gửi các giấy tờ cho anh K qua bà, bà nhất trí nhận thay và thông báo lại ngay cho anh K biết sau khi Tòa án giao cho bà, còn việc anh K có về giải quyết hay không thì bà không quyết định được, đó là việc anh K tự quyết định. Về quan hệ hôn nhân, con chung thì bà Chung và ông Trần Quốc Bình trưởng khu cho biết: Anh K và chị T đăng ký kết hôn ngày 03/3/2018 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố V, tỉnh P. Sau khi kết hôn được khoảng 03 năm thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, gia đình bố mẹ hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng đều không thành, anh K chị T đã ly thân từ tháng 07/2024 đến nay. Quan điểm của gia đình và chính quyền địa phương đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng anh K, chị T có 02 con chung là Dương Tiến Gia Bảo, sinh ngày 22/6/2019 và Dương Bảo Linh, sinh ngày 12/10/2022. Hiện nay hai con chung đang ở với mẹ là chị T ở thành phố Nha T, tỉnh Khánh Hòa. Về phần con chung để đảm bảo quyền lợi cho các con chung đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do anh K vắng mặt nên vụ án không hòa giải được, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử theo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Linh T. Xử cho chị Nguyễn Thị Linh T được ly hôn anh Dương Tiến K.
- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Dương Tiến Gia Bảo, sinh ngày 22/6/2019 và cháu Dương Bảo Linh, sinh ngày 12/10/2022 cho chị Nguyễn Thị Linh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị T xác định vợ chồng không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Linh T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết xác định: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh T và bị đơn anh Dương Tiến K. Anh K có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 23, khu 3, phường D, thành phố V, tỉnh P. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P là đúng quy định pháp luật.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh T có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Bị đơn anh Dương Tiến K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh K.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Linh T và anh Dương Tiến K là vợ chồng và có đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 03/3/2018 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố V, tỉnh P. Trong quá trình chung sống, theo như chị T trình bày thì vợ chồng chung sống với nhau được 03 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh K không để ý đến vợ con, vợ chồng hay bất đồng trong quan điểm sống, mặc dù chị cũng đã cố gắng trao đổi để giải quyết nhưng không có kết quả, các mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng không thể hòa hợp được. Chị và anh K đã sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, tuy không lấy được lời khai của anh K nhưng qua việc xác minh thông tin từ mẹ đẻ anh K là bà Nguyễn Thị Kim Chung và xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh K cư trú thì được mẹ đẻ anh K cùng đại diện chính quyền địa phương cho biết: Anh K và chị T đăng ký kết hôn ngày 03/3/2018 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố V, tỉnh P. Sau khi kết hôn được khoảng 03 năm thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống, gia đình bố mẹ hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng đều không thành, anh K chị T đã ly thân từ tháng 07/2024 đến nay. Từ những căn cứ nêu trên chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh K rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T đối với anh K là hoàn toàn có căn cứ, được chấp nhận cho ly hôn.
- Về con chung: Chị T trình bày vợ chồng chị có 02 con chung là Dương Tiến Gia Bảo, sinh ngày 22/6/2019 và Dương Bảo Linh, sinh ngày 12/10/2022. Quá trình giải quyết vụ án, anh K không đến Tòa án làm việc nên không lấy được lời khai của anh K về con chung. Còn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến khi thành niên lao động tực túc được. Tòa án xác minh thông tin về con chung của vợ chồng chị T, anh K thì được bà Nguyễn Thị Kim Chung là mẹ đẻ anh K cùng đại diện chính quyền địa phương cho biết: Vợ chồng chị T, anh K có 02 con chung là Dương Tiến Gia Bảo, sinh ngày 22/6/2019 và Dương Bảo Linh, sinh ngày 12/10/2022. Sau khi vợ chồng xảy ra mẫu thuẫn, thì hiện nay hai con chung đang ở với mẹ là chị T ở thành phố Nha T, tỉnh Khánh Hòa. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Bảo và cháu Linh, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị Linh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị T không trái đạo đức xã hội và không vi phạm pháp luật nên được chấp nhận. Chị T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Mặc dù chị T trình bày không có nhưng do anh K vắng mặt không có lời khai nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân của chị T, anh K nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.
. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Linh T về việc “Ly hôn”.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Linh T được ly hôn anh Dương Tiến K.
3. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là Dương Tiến Gia Bảo, sinh ngày 22/6/2019 và Dương Bảo Linh, sinh ngày 12/10/2022 cho chị Nguyễn Thị Linh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Anh Dương Tiến K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị Linh T. Chị T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
4. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị Linh T xác định vợ chồng không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Linh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003179 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P.
6. Chị T, anh K vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND TP. V, T. P; - Chi cục THADS TP. V, T. P; - UBND P. D, TP. V, T. P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị H |