- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Trần Anh Q"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Anh Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày 16 - 01 - 2025. V/v “Ly hôn, con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Tăng và bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2024/TLST-HNG§ ngµy 14 th¸ng 10 n¨m 2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Anh Q, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ 2, thị trấn B, huyện K (nay là phường B, thị xã K), tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 31 tháng 7 năm 2024 và các lời khai tại Tòa án, chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Anh Q kết hôn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Q, huyện K (nay là phường Quế, thị xã Kim Bảng), tỉnh Hà Nam ngày 07 tháng 11 năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại tổ 2, thị trấn B, huyện K (nay là phường B, thị xã K), tỉnh Hà Nam được đến giữa năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và sự đồng cảm, dẫn đến vợ chồng hay xảy ra va chạm, xích mích. Tháng 8 năm 2019, chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Nam sinh sống, từ đó vợ chồng sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng và không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống, tình cảm của nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng chị có hai người con chung là cháu Trần Anh Th, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015 và cháu Trần Hoài A, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả hai con đều ở với chị. Nguyện vọng của chị khi ly hôn là xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con kể từ khi ly hôn đến khi các con đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Anh Trần Anh Q là bị đơn đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.
Tại phiên tòa đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy và không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. 1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Anh Q. 2. Con chung: Giao cháu Trần Anh Th và cháu Trần Hoài A cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. 3. Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm đề nghị về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Trần Anh Q là bị đơn; địa chỉ: Tổ 2, phường B, thị xã K, tỉnh Hà Nam. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh Trần Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Anh Q kết hôn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 11 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện K (nay là phường Q, thị xã K), tỉnh Hà Nam. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn chị Hoa, anh Q chung sống hòa thuận, hạnh phúc được đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, không thể hàn gắn. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không quan tâm gì đến cuốc sống, tình cảm của nhau, điều này chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng chị H, anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H xin ly hôn anh Q là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị H, anh Q có hai người con chung là cháu cháu Trần Anh Th, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015 và cháu Trần Hoài A, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cả hai cháu đều ở với chị H, được chị H nuôi dưỡng đảm bảo tốt về mọi mặt. Nguyện vọng của chị H là xin được nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Để không xáo trộn cuộc sống của các cháu cũng như ý kiến, nguyện vọng của cháu Th xin được ở với mẹ được Hội đồng xét xử chấp nhận, giao cả hai cháu cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Q không phải cấp dưỡng cho con theo sự tự nguyện của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Anh Q.
2. Con chung: Giao cháu Trần Anh Th, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2015 và cháu Trần Hoài A, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2018 cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị H.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000199 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND thị xã Kim Bảng; - T.H.A dân sự thị xã Kim Bảng; - UBND phường Quế; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¥ TH¢M Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |