- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Hồ Thị Sà R với bị đơn Ông Triệu Minh T:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày 7-7-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Cơ
Ông Tăng Ngọc Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Điểm - Kiểm sát viên.
Ngày 7-7-2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số thụ lý số: 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2025/QĐXXST-DS ngày 15-5-2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Sà R, sinh năm 1986; địa chỉ nơi cư trú: Ấp S, xã N, thành phố Cần Thơ (cũ là ấp S, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng). (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Triệu Minh T, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã N, thành phố Cần Thơ (cũ là ấp Đ, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng). (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10-3-2025, biên bản lấy lời khai đương sự đề ngày 24-4-2025, đơn đề nghị Tòa án giải quyết giải quyết xét xử vắng mặt đề ngày 15-5-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bà Hồ Thị Sà R trình bày cho rằng năm 2014 Bà Hồ Thị Sà R và Ông Triệu Minh T kết hôn có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng (số 46 ngày 10-02-2014). Đến năm 2015, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được với nhau và sống ly thân cho đến nay. Hiện ai cũng có cuộc sống riêng không con quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, Bà Hồ Thị Sà R yêu cầu xin ly hôn với Ông Triệu Minh T. Về con chung giữa Bà Hồ Thị Sà R và Ông Triệu Minh T có một con chung tên Triệu Thị Minh T2 (sinh ngày 30-9-2014) vốn sống cùng Ông Triệu Minh T và gia đình ông từ nhỏ đến nay; khi ly hôn Bà Hồ Thị Sà R đồng ý giao con chung trên cho Ông Triệu Minh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, Bà Hồ Thị Sà R không phải cấp dưỡng cho con chung. Tài sản chung, nợ chung giữa Bà Hồ Thị Sà R và Ông Triệu Minh T không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Đồng thời, Bà Hồ Thị Sà R yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bà theo quy định pháp luật.
Bị đơn Ông Triệu Minh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.
Tại phiên tòa, Bà Hồ Thị Sà R vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Ông Triệu Minh T vắng mặt không có lý do chính đáng; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện X phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân cho Bà Hồ Thị Sà R được ly hôn với Ông Triệu Minh T; về con chung, giao cháu Triệu Thị Minh T2 cho Ông Triệu Minh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho Bà Hồ Thị Sà R không ai được quyền ngăn cản; về cấp dưỡng cho con, tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét; tuyên án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của Bà Hồ Thị Sà R là vụ án hôn nhân và gia đình về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình; bị đơn Ông Triệu Minh T cư trú Ấp Đ, xã N, thành phố Cần Thơ (cũ là ấp Đ, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng) nên Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ (kế thừa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng cũ) thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); tại phiên tòa, Bà Hồ Thị Sà R vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, Ông Triệu Minh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về hôn nhân: Bà Hồ Thị Sà R và Ông Triệu Minh T kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 46 Quyển số 01/2014 ngày 10-02-2014 là hôn nhân hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo Bà Hồ Thị Sà R trình bày vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để đương sự gặp gỡ hòa giải các mâu thuẫn, đoàn tụ nhưng Bà Hồ Thị Sà R vẫn kiên quyết xin ly hôn; Ông Triệu Minh T nhận văn bản tố tụng thông báo về yêu cầu khởi kiện của Bà Hồ Thị Sà R đối với ông nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình… theo quy định tại Điều 17-Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay thì Bà Hồ Thị Sà R và Ông Triệu Minh T đã sống ly thân, mỗi người tự sống cuộc sống riêng, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình… là vi phạm nghiệm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Xét Bà Hồ Thị Sà R yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Hồ Thị Sà R trình bày giữa Bà Hồ Thị Sà R và Ông Triệu Minh T có một con chung tên Triệu Thị Minh T2 (sinh ngày 30-9-2014) vốn sống cùng Ông Triệu Minh T và gia đình Ông Triệu Minh T từ nhỏ đến nay. Khi ly hôn Bà Hồ Thị Sà R đồng ý giao con chung cho Ông Triệu Minh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, Bà Hồ Thị Sà R không phải cấp dưỡng cho con chung; Ông Triệu Minh T không có ý kiến gì về vấn đề con chung gửi đến Toà án; qua nguyện vọng của cháu Triệu Thị Minh T2 muốn tiếp tục được sống cùng cha ruột là Ông Triệu Minh T. Xét thấy, cháu Triệu Thị Minh T2 vốn sống cùng với Ông Triệu Minh T và gia đình Ông Triệu Minh T từ nhỏ đến nay. Vì vậy, cần tiếp tục giao cháu Triệu Thị Minh T2 cho Ông Triệu Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đảm bảo tốt nhất sự phát triển của cháu trong thời điểm hiện tại, phù hợp với điều kiện, nguyện vọng của Bà Hồ Thị Sà R, Ông Triệu Minh T, cháu Triệu Thị Minh T2 và đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà Hồ Thị Sà R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà Hồ Thị Sà R không yêu cầu về cấp dưỡng cho con chung; Ông Triệu Minh T không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hồ Thị Sà R trình bày không có; Ông Triệu Minh T không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Hồ Thị Sà R phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 14 Điều 3, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Hồ Thị Sà R với bị đơn Ông Triệu Minh T:
- Về hôn nhân: Bà Hồ Thị Sà R được ly hôn với Ông Triệu Minh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 46 Quyển số 01/2014 ngày 10-02-2014 tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng {nay là Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Cần Thơ}).
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Triệu Thị Minh T2 (sinh ngày 30-9-2014) cho Ông Triệu Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đã thành niên; Bà Hồ Thị Sà R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng cho con chung: Bà Hồ Thị Sà R không yêu cầu; Ông Triệu Minh T không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hồ Thị Sà R trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông Triệu Minh T không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Bà Hồ Thị Sà R phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008463 ngày 17-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Sóc Trăng (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8-Cần Thơ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 8-Cần Thơ; - Phòng THADS Khu vực 8-Cần Thơ; - UBND xã/phường đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Kim Nhẫn |