vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ T:

1/Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ T ly hôn anh Nguyễn Văn T1. 2/Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ T:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 108 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02/7/2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17- TỈNH LÂM ĐỒNG

- T1 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.

Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Đức Binh

2.Ông Phạm Xuân Trường

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Bùi Chí Bảo, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17- tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17, tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 92/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1999; nơi cư trú: Số 32, đường số 35, thôn 10, xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là: xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Số 45, đường số 02, thôn 7, xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là: xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng).

Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21/02/2025, biên bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T trình bày: Chị và anh T1 tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận vào năm 2022. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về tính tình, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm nhưng không được, tình trạng mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Anh chị đã ly thân từ tháng 01 năm 2025 đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T1, do đó chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

- Về con chung: Anh chị có 01con con chung tên Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023. Hiện nay con (T2) đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền nuôi con và yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng.

Về nghề nghiệp: Hiện nay chị đang làm công nhân tại công ty Nhà Bè, lương trung bình 6.000.000đồng/tháng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2025, bị đơn anh Phạm Văn T1 trình bày:

- Về hôn nhân: Về quá trình kết hôn thì chị T trình bày hoàn toàn đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn:

+ Anh thừa nhận trong thời gian chung sống cùng nhau thì anh chị có mâu thuẫn nhưng chỉ là là những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Mâu thuẫn chỉ bắt đầu trầm trọng từ đầu năm 2025 là do anh thường xuyên đi chơi về khuya, ít quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Vào khoảng tháng 3/2025 sau một lần cãi nhau thì chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay và nộp đơn đến Tòa án yêu cầu ly hôn với anh.

- Về con chung: anh chị có 01 con chung Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023. Từ khi ly thân đến nay thì con ở cùng với chị T. Anh đồng ý giao con cho chị nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng.

Về nghề nghiệp: Anh T1 hiện nay làm phụ xe và phụ bóc tách sầu riêng cho người thân thu nhập trung bình từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000đồng/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn, Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con: Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023 cho chị T là được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục

- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/tháng cho đến khi con tròn đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2025 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17, tỉnh Lâm đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17, tỉnh Lâm Đồng) thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong giai đọan chuẩn bị xét xử mặc dù đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.

Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Nguyễn Thị Mỹ T và anh Phạm Văn T1 có đăng ký kết hôn vào ngày 05/04/2022 tại UBND xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh đến năm 2024 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn từ việc anh chị không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau, làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không T1, cho thấy “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và con. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là đúng theo quy định tại Điều 51 và khoản 1, Điều 56 Luật Hôn Nhân và Gia đình; khoản 1, 3 Điều 4 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao.

Về con chung: Xét thấy con Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023 hiện chưa đủ 36 tháng tuổi, cháu ở cùng với mẹ từ khi ly thân cho đến nay; chị T là người có đạo đức tốt, có việc làm và thu nhập ổn định. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, anh T1 cũng có ý kiến thống nhất theo đề nghị của chị T. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao con: Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023 cho Nguyễn Thị Mỹ T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Xét về mức cấp dưỡng: Chị T yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng. Hội đồng xét xử thấy rằng mức yêu cầu cấp dưỡng này là phù hợp với mức sống trung bình tại địa phương và khả năng thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận mức 2.000.000đồng/tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân tối cao

Anh T1 hiện nay là người có sức khỏe, có công việc và thu nhập ổn định.Vì vậy Hội đồng xét xử cần buộc anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con theo mức quyết định của Hội đồng xét xử là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật

[ 7] Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không tranh chấp. Vì vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị T là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.

Anh Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về áp dụng án lệ: Nghiên cứu các bản án lệ do TAND tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015; Áp dụng Điều 51 và Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 107, 108, 110, 116,117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; khoản 3 Điều 4, khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ T:

1/Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ T ly hôn anh Nguyễn Văn T1.

2/Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3/ Về cấp dưỡng nuôi con:

Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải cấp dưỡng nuôi con: Phạm Nhật Quốc T2, sinh ngày 15/9/2023, mỗi tháng là 2.000.000đồng/tháng, kể từ tháng 7 năm 2025 cho đến khi con tròn đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị Mỹ T có quyền yêu cầu thi hành án ngày sau khi xét xử sơ thẩm đối với số tiền anh Phạm Văn T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Phạm Văn T1 có nghĩa vụ thi hành ngay số tiền Tòa án buộc phải cấp dưỡng nuôi con theo đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ T.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Mỹ T có đơn yêu cầu thi hành án về số tiền cấp dưỡng nuôi con thì anh Phạm Văn T1 còn phải chịu lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4/Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu 300.000đồng án phí DSST về việc ly hôn, nhưng được trừ vào trong số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng mà chị T đã nộp tại biên lai số 0005278 ngày 14/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh (nay là: Phòng thi hành án dân sự 17, tỉnh Lâm Đồng). Chị Nguyễn Thị Mỹ T đã nộp đủ án phí DSST.

Anh Phạm Văn T1 phải chịu 300.000đồng án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con. Án phí nộp tại Cục thi hành án dân tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: số 58 Pasteur, phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng hoặc phòng thi hành án dân sự khu vực 17.

5/Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

6/ Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ