vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Khả K được ly hôn với ông Đinh Vũ L.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Khả K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Đinh Hoàng Minh Đ, sinh ngày 07/5/2015 và Đinh Hoàng Minh T, sinh ngày 04/11/2020. Ông L không phải cấp dưỡng cho con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Khả K được ly hôn với ông Đinh Vũ L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 7 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Hiển.

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 452/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 495/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Khả K, sinh năm 1995 (căn cước công dân xxxxxxxxxxxx); cư trú tại: Số 848, tổ 26, ấp B, xã BM, tỉnh An Giang. Có mặt

- Bị đơn: Ông Đinh Vũ L, sinh năm 1991 (chứng minh nhân dân xxxxxxxxx); cư trú tại: Số 77 đường Yết Kiêu, ấp V, xã C, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/02/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Khả K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà K và ông L do quen biết, tìm hiểu nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Núi Voi (nay là phường Chi Lăng) vào ngày 01/6/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xảy ra tranh cãi làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, hiện đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà K yêu cầu ly hôn với ông L.

- Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Đinh Hoàng Minh Đ, sinh ngày 07/5/2015 và Đinh Hoàng Minh T, sinh ngày 04/11/2020, hiện 02 (hai) con chung do bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn ông Đinh Vũ L vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Khả K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K, cho bà K ly hôn với ông L.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 (hai) con chung tên Đinh Hoàng Minh Đ và Đinh Hoàng Minh T cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

- Về án phí dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại xã C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà K và ông L xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Núi Voi (nay là phường Chi Lăng) theo giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 01/6/2015. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 9 và Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và phải có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, bà K và ông L đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; cả hai đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông bà đoàn tụ nhưng bà K cương quyết ly hôn; ông L nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và biết việc bà K khởi kiện ly hôn nhưng ông vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến. Qua đó, cho thấy ông L không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, hôn nhân của ông bà đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân dân tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K.

Về con chung: Hiện con chung tên Đinh Hoàng Minh Đ và Đinh Hoàng Minh T đang sống với bà K và bà K có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung. Ông L không có ý kiến về yêu cầu nuôi con của bà K. Con chung tên Đinh Hoàng Minh Đ có nguyện vọng được sống với bà K khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay các con chung đều do bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định về tâm lý, về môi trường sống, điều kiện học tập, nơi ở và đảm bảo sự phát triển bình thường của các con chung cũng như tôn trọng nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Đinh Hoàng Minh Đ và Đinh Hoàng Minh T cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Ông L không phải cấp dưỡng cho con chung do bà K không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí dân sự: Bà K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Khả K được ly hôn với ông Đinh Vũ L.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Khả K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Đinh Hoàng Minh Đ, sinh ngày 07/5/2015 và Đinh Hoàng Minh T, sinh ngày 04/11/2020. Ông L không phải cấp dưỡng cho con chung.

+ Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

+ Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

- Về án phí dân sự: Bà Nguyễn Thị Khả K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009541 ngày 27 tháng 12 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - An Giang).

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ