vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị H ly hôn anh Vũ Văn C.

Về con chung: Giao cho chị Trịnh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là Vũ Thị Ngọc M, sinh ngày 24/9/2008, Vũ Thị Khánh L, sinh ngày 04/02/2014 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Huệ không yêu cầu anh Cương phải thực hiện nghĩa vụ c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ giữa chị Trịnh Thị H - anh Vũ văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị H ly hôn anh Vũ Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ - ST
Ngày 14/7/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm và ông Phạm Xuân Sang

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33 ngày 13 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST - HNGĐ ngày 27/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh ngày 12/10/1975; Nơi cư trú: Thôn Mỹ Đức, xã Dân A, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Mỹ Đ, xã Tân K, thành phố Hải Phòng); Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Vắng mặt

- Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh ngày 20/11/1974; Nơi cư trú: Thôn Mỹ Đức, xã Dân A, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Mỹ Đ, xã Tân K, thành phố Hải Phòng); Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Trịnh Thị H trình bày: Chị và anh Vũ Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện được UBND xã Krông á, M'Đrăk - Đắk Lắk đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 31/10/2002. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại Đắk Lắk thời gian ngắn sau đó về quê Tứ Kỳ sinh sống, cuộc sống vợ chồng vu vẻ hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Anh Cương chơi bời nợ nần, không quan tâm chăm lo gì đến gia đình, vợ con, do nợ nên anh Cương đã bỏ vợ bỏ con đi, thỉnh thoảng mới về nhà, vợ chồng sống ly thân 07 năm nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh Cương.

Về con chung: Chị và anh Cương có ba con chung là Vũ Thị Minh A, sinh ngày 12/11/2003 và Vũ Thị Ngọc M, sinh ngày 24/9/2008, Vũ Thị Khánh L, sinh ngày 04/02/2014; Hiện nay cháu Minh Anh đã trưởng thành chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu Ly và cháu Mai, chị tự nguyện không yêu cầu anh Cương cấp dưỡng nuôi các con cùng chị.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của bà Đinh Thị Lượt (mẹ đẻ anh Cương) trình bày: Năm 2002 anh Vũ Văn C kết hôn với chị Trịnh Thị H việc kết hôn của anh chị là tự nguyện được UBND xã xã Krông á, M'Đrăk - Đắk Lắk nơi anh chị làm việc đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn anh Cương, chị Huệ sinh sống tại Đắk Lắk đến đầu năm 2003 anh Cương đưa vợ con về quê Tứ Kỳ sinh sống. Cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Cương chơi bời nợ nần dẫn đến vợ chồng cãi nhau, anh Cương đã bỏ nhà đi không quan tâm chăm lo gì cho gia đình vợ và các con, một mình chị Huệ vất vả nuôi 03 con, anh Cương không chút trách nhiệm nào, anh chị đã sống ly thân 07 năm nay. Hiện tại anh Cương đi đâu làm gì bà không biết, anh chỉ liên lạc với bà qua điện thoại, khi chị Huệ làm đơn xin ly hôn anh Cương và khi Tòa án gửi giấy triệu tập và Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án về cho anh Cương bà đã thông báo cho anh Cương biết, anh Cương có trao đổi với bà anh không về, chị Huệ muốn làm gì thì làm, anh không có ý kiến gì về việc ly hôn. Nay chị Huệ có đơn xin ly hôn anh Cương bà đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Cương, chị Huệ ly hôn để anh chị sớm ổn định cuộc sống. Nếu trong trường hợp Tòa án giải quyết cho anh Cương, chị Huệ ly hôn, bà đề nghị Tòa án giao cháu Vũ Thị Ngọc M và cháu Vũ Thị Khánh L cho chị Huệ nuôi dưỡng, chị Huệ có chỗ ở và thu nhập ổn định.

Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã Dân An, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xác định: Anh Vũ Văn C và chị Trịnh Thị H kết hôn với nhau tại xã Krông á, M'Đrăk - Đắk Lắk vào năm 2002 việc kết hôn của anh chị là hợp pháp. Đầu 2003 anh chị về quê Tứ Kỳ sinh sống và làm việc, cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Cương chơi bời nợ nần, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, anh Cương đã bỏ nhà đi trốn nợ không không chăm lo gì cho gia đình vợ con, anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị Huệ có đơn xin ly hôn anh Cương, theo quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để anh chị sớm ổn định cuộc sống và giải quyết cho chị Huệ được nuôi con trong thời gian anh Cương không có mặt tại địa phương để các cháu ổn định cuộc sống và ổn định việc học tập.

Tại phiên tòa: Chị Huệ đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh Cương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trịnh Thị H, đề nghị xử cho chị Trịnh Thị H ly anh Vũ Văn C; Về con chung: Giao cho chị Trịnh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Vũ Thị Ngọc M, sinh ngày 24/9/2008 và Vũ Thị Khánh L, sinh ngày 04/02/2014 đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Huệ không yêu cầu anh Cương phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Về án phí: Chị Huệ phải chịu án phí theo quy của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

Về tố tụng: Chị Trịnh Thị H khởi kiện ly hôn anh Vũ Văn C; nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ Đức, xã Dân An, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (nay là xã Tân Kỳ, thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Hải Phòng) thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết do anh Cương vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa chị Huệ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Cương đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt lần thứ 2; Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H và anh Vũ Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND Krông á, M'Đrăk - Đắk Lắk vào ngày 31/10/2002. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Huệ và anh Cương là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của chị Huệ và đại diện gia đình anh Cương , kết quả xác minh tại địa phương, HĐXX xác định trong cuộc sống anh chị đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Cương chơi bời nợ nần, vợ chồng không tôn trọng nhau, không quan tâm đến nhau, anh chị đã có thời gian dài sống ly thân. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị Huệ và anh Cương đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Huệ ly hôn anh Cương là phù hợp.

Về con chung: Chị Huệ và anh Cương có ba con chung là Vũ Thị Minh A, sinh ngày 12/11/2003 và Vũ Thị Ngọc M, sinh ngày 24/9/2008, Vũ Thị Khánh L, sinh ngày 04/02/2014; Hiện nay cháu Minh Anh đã trưởng thành chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu Mai và Ly đang ở với chị Huệ, khi ly hôn chị Huệ đề nghị giao con Vũ Thị Ngọc M và Vũ Thị Khánh L cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị tự nguyện không yêu cầu anh Cương phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; nguyện vọng của cháu Mai, cháu Ly muốn được ở với chị. Xét thấy, con chung đang ở ổn định với chị Huệ, do vậy, HĐXX cần giao con chung Vũ Thị Ngọc M và Vũ Thị Khánh L cho chị Huệ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị Huệ không yêu cầu anh Cương phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung: Chị Huệ xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Huệ khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều: 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị H ly hôn anh Vũ Văn C.

2. Về con chung: Giao cho chị Trịnh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là Vũ Thị Ngọc M, sinh ngày 24/9/2008, Vũ Thị Khánh L, sinh ngày 04/02/2014 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Huệ không yêu cầu anh Cương phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con.

Ah Vũ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) được đối trừ số tiền chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002277 ngày 08/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (nay là Chi cục thi hành án dân sự Khu vực 11 - Hải Phòng). Chị Huệ đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ