vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho anh Trương Văn T được ly hôn chị Bùi Thị H.

Về con chung: Giao cháu Trương Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày: 20/6/2015 và cháu Trương Hà V (giới tính: Nữ), sinh ngày: 22/8/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu mỗi tháng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghì đồng). Hai cháu mỗi tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Văn T - Bùi Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Trương Văn T được ly hôn chị Bùi Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 14 tháng 01 năm 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà, ông Lưu Đình Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 11/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QĐST- HNGĐ ngày 26/12/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trương Văn T - Sinh năm: 1989

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa

- Bị đơn: Chị Bùi Thị H - Sinh năm: 1986

Nơi ĐKHTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt anh T, vắng mặt chị H (Chị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/7/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Trương Văn T trình bày: Anh T và chị Bùi Thị H có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2013 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi cọ. Anh và chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Đến nay, anh T xác định tình cảm vợ, chồng không còn hạnh phúc đã thực sự tan vỡ nên anh T yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Trà M, sinh ngày: 20/6/2015 và cháu Trương Hà V, sinh ngày: 22/8/2018. Ly hôn, anh T có nguyện vọng giao cả 02 cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng mỗi cháu số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hai cháu mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập chị Bùi Thị H để nộp bản tự khai và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị H đều vắng mặt không có lí do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho anh Trương Văn T được ly hôn chị Bùi Thị H. Giao cháu Trương Trà M, sinh ngày: 20/6/2015 và cháu Trương Hà V, sinh ngày: 22/8/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng mỗi cháu số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hai cháu mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2025 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

- Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Anh Trương Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với chị Bùi Thị H. Chị H có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng chị H vắng mặt không có lí do, tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị H và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho chị H theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Chị H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhiều lần nhưng chị H đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị H lần thứ hai đến để tham gia phiên tòa nhưng chị H vắng mặt không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị H.

Về hôn nhân: Anh Trương Văn T và chị Bùi Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2013 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng quan điểm nên thường xuyên cãi vã. Trong quá trình giải quyết vụ án tại các buổi hòa giải chị H không đến Tòa án để tham gia hòa giải mà không có lý do. Từ khi anh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với chị H, chị H cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H không còn, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị H là có cơ sở, nên yêu cầu của anh T được chấp nhận.

Về con chung: Anh Trương Văn T và chị Bùi Thị H có 02 con chung là cháu Trương Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày: 20/6/2015 và cháu Trương Hà V (giới tính: Nữ), sinh ngày: 22/8/2018. Khi ly hôn anh T có nguyện vọng giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy: Việc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, từ khi anh T và chị H sống ly thân đến nay, cả hai cháu đều sinh sống cùng mẹ, được chị H chăm sóc chu đáo, đồng thời cháu M cũng có nguyện vọng ở với mẹ và em gái. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt cũng như ổn định về cuộc sống của các cháu, cần giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Anh Trương Văn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng mỗi cháu số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hai cháu mỗi tháng số tiên 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) từ khi ly hôn cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử thấy: Việc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của cả anh T và chị H. Anh T tự nguyện đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị H, đây là sự tự nguyện của anh T phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị định 74/2024/NĐ- CP ngày 01/7/2024 của Chính phủ; Nghị quyết 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Trương Văn T được ly hôn chị Bùi Thị H.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Trà M (giới tính: Nữ), sinh ngày: 20/6/2015 và cháu Trương Hà V (giới tính: Nữ), sinh ngày: 22/8/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu mỗi tháng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghì đồng). Hai cháu mỗi tháng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 01/2025 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên đương sự có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác.

Anh T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trược tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Anh Trương Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ. Anh T được trừ số tiền anh đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số 0002381 ngày 08/10/2024, anh T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Anh T còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh Trương Văn T, vắng mặt chị Bùi Thị H. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ