- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thùy L - Nguyễn Thành T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thùy L đối với anh Nguyễn Thành T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-01-2025 V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hồng Minh.
2. Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 274/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thùy L, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1990; cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28/8/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Thùy L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thành T chung sống với nhau từ năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021 nguyên nhân do không hợp tính tình, vợ chồng không có tiếng nói chung. Gia đình đã hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành. Anh chị không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2021, chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Trong thời gian này, anh chị có gặp nhau để hòa giải hàn gắn nhưng nhận thấy anh T không sửa chữa nên vợ chồng không đoàn tụ. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là cháu Nguyễn Võ Châu A, sinh ngày 30/12/2019 đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Võ Thị Thùy L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Thành T vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ vụ án theo quy định; xác định đúng tư cách đương sự, người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp; xác minh thu thập tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định; thực hiện đúng thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, chị Võ Thị Thùy L được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Võ Châu A, sinh ngày 30/12/2019 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và tài sản riêng, nợ riêng: Không có.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị L, anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thùy L, anh Nguyễn Thành T tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T (nay là xã P, thị xã T), tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 37/2019 ngày 11/6/2019. Các bên có đủ điều kiện kết hôn, thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đúng quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu ly hôn nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình, cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn thể hiện ý thức không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân, không có nhu cầu, nguyện vọng, thiện chí hòa giải hàn gắn, đoàn tụ. Tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ về tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh T và chị L thể hiện anh chị có phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không chung sống với nhau thời gian dài, không có tình nghĩa vợ chồng, không chăm sóc, giúp đỡ nhau, chia sẻ công việc trong gia đình. Lời trình bày của chị L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T.
Về con chung: Chị L và anh T có 01 người con chung là cháu Nguyễn Võ Châu A, sinh ngày 30/12/2019. Xét thấy, hiện nay chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; cháu A đã quen với điều kiện, môi trường sống và được chị L nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo điều kiện tốt nhất. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thùy L đối với anh Nguyễn Thành T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Thùy L với anh Nguyễn Thành T. Chị L và anh T không còn quyền, nghĩa vụ vợ chồng
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Võ Châu A, sinh ngày 30/12/2019 cho chị Võ Thị Thùy L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Thành T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; chị Võ Thị Thùy L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh T không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị Thùy L không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Võ Thị Thùy L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị L đã nộp theo biên lai thu số 0005187 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - CC THADS huyện Tân Biên; - UBND xã P; thị xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Hải |