- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Sấm + Lợi"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị S được ly hôn với anh Vàng Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/03/2025. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Lý Đức Hiệp;
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Phạm Anh Tuấn;
2. Ông: Phàng A Chu;
- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 07/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự sau:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị S, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Bị đơn: Anh Vàng Văn L, Sinh năm 1996.
Địa chỉ: Bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lò Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vàng Văn L đến với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 25/4/2017 tại UBND xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Sau khi kết hôn, chị và anh L chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2018 thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh L còn có những hành động bạo lực kèm theo những lời nói xúc phạm đến danh dự của chị và gia đình chị. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng,không cách nào hàn gắn mặc dù đã được gia đình hai bên can thiệp và hòa giải. Hiện chị và anh L đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay và không còn ai quan tâm đến ai nữa, bản thân chị Lò Thị S xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng Văn L.
Về con chung: Chị và anh Vàng Văn L có 01 con chung tên là Vàng Thị Thảo V, sinh ngày 25/9/2016. Nguyện vọng của chị Lò Thị S là giao cháu Vàng Thị Thảo V cho anh Vàng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Vàng Văn L tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thi S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo các lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Vàng Văn L trình bày:
Anh và chị Lò Thị S về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu vào ngày 25/4/2017. Việc kết hôn giữa anh và chị S là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2018 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng lẫn nhau nhưng chưa đến mức phải ly hôn. Việc chị S đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, quan điểm của anh L không nhất trí vì anh vẫn còn tình cảm với chị S, mong muốn Tòa án xem xét, hòa giải cho anh và chị S đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau chung sống nuôi dạy con cái trưởng thành. Trường hợp phải ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Vàng Thị Thảo V, sinh ngày 25/9/2016 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con anh L và chị S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung anh L cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Ngày 11/10/2024 Tòa án đã tiến hành tống đạt bằng hình thức niêm yết các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ (Kèm theo Bản sao biên bản lấy lời khai của chị Lò Thị S, ngày 11/10/2024); Bản sao Đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do chị Lò Thị S giao nộp cho Tòa án đảm bảo theo quy định của pháp luật do bị đơn anh Vàng Văn vắng mặt tại nơi cư trú. Ngày 09/01/2025 anh Vàng Văn L đến Tòa án để làm việc và đã có văn bản trả lời Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và có biên bản lấy lời khai. Theo nguyện vọng của anh L mong muốn được Tòa án hòa giải đoàn tụ cho vợ chồng anh, tuy nhiên quá trình về sau anh Vàng Văn L không đến Toà án để làm việc theo thông báo mở phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (lần 2) và giấy triệu tập của Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
* Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lò Thị S vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng Văn L và giải quyết về việc nuôi con chung theo nội dung đơn ly hôn của chị S đã trình bày.
* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi Thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng, đảm bảo quyền nghĩa vụ theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự (vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35; 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57,Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Lò Thị S được ly hôn với anh Vàng Văn L.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Vàng Thị Thảo V, sinh ngày 25/9/2016 cho anh Vàng Văn L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lò Thị S và anh Vàng Văn L tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Do chị Lò Thị S và anh Vàng Văn L không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị Sâm phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn, xét yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị S là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Toà án xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Vàng Văn L có đăng ký thường trú tại bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về điều luật áp dụng: Chị Lò Thị S và anh Vàng Văn L kết hôn năm 2017 nên Toà án sẽ áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân và để giải quyết vụ án.
Về việc vắng mặt đương sự: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 175, Điều177 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc anh L không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự là do anh L đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Ngày 27/02/2025 Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn Vàng Văn L vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh Lợi tiếp tục vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Vàng Văn L.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của chị Lò Thị S và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị S và anh Vàng Văn L tự nguyện kết hôn được UBND xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/5/2017. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh L là hợp pháp. Theo lời khai của các đương sự đều xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên chị S và anh L đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: Quá trình chung sống với nhau tại bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn thời gian đầu vợ chồng chị S, anh L chung sống vui vẻ, hạnh phúc. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng trẻ có lúc xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi vã, đánh chửi lẫn nhau nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thường tự giải quyết trọng nội bộ gia đình nên chưa có lần nào phải yêu cầu đến lãnh đạo bản, lãnh đạo xã đứng ra can thiệp hay tổ chức hòa giải. Hiện anh L và chị S không còn chung sống với nhau nữa, chị S đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn và đi làm công ty từ năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy việc chị S và anh L đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay thể hiện việc cả hai anh chị đã vi phạm nghĩa vụ của người vợ, người chồng, dẫn đến không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình với nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vàng Văn L vắng mặt tại các phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt phiên tòa xét xử không có lý do. Điều này thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, cũng như việc tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình của bị đơn.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Để đảm bảo quyền lợi cho chị Lò Thị S và giải phóng cho chị khỏi cuộc sống hôn nhân khi mà anh Vàng Văn L không thể đem lại hạnh phúc cho chị, mâu thuẫn gia đình ngày càng trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S về việc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Lò Thị S và anh Vàng Văn L có 01 con chung tên là Vàng Thị Thảo V, sinh ngày 25/9/2016. Hiện nay cháu V đang ở với anh L và ông bà nội tại bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Sau khi ly hôn chị S có nguyện vọng giao con chung cho anh Vàng Văn L nuôi dưỡng, chăm sóc và anh L cũng có nguyện vọng là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tính đến thời điểm giải quyết vụ án, cháu Vàng Thị Thảo V đã trên 7 tuổi (09 tuổi). Tại văn bản trình bày nguyện vọng của cháu V gửi cho Tòa án và tại Biên bản ghi nhận ý kiến về nguyện vọng của con chung thì cháu đều thể hiện sự mong muốn của mình là được ở với bố vì cháu đã quen ở với bố và ông bà nội từ nhỏ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Con chung là cháu Vàng Thị Thảo V, sinh ngày 25/9/2016 hiện đang ở với anh L được chăm sóc đầy đủ và phát triển khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần. Anh L hiện đang là lao động tự do, có nơi cư trú ổn định, thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/tháng và có điều kiện về mặt thời gian để trực tiếp chăm sóc con chung. Tại biên bản lấy lời khai của chị S và anh L đều có chung nguyện vọng là để cháu V cho anh L trực tiếp nuôi dạy và cháu V cũng có ý kiến thể hiện sự mong muốn của mình là được ở với bố. Do đó, căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung của chị S và anh L: Giao con chung cháu Vàng Thị Thảo V, sinh ngày 25/9/2016 cho anh Vàng Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lò Thị S có quyền đi lại, thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Lò Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35; 39; khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị S được ly hôn với anh Vàng Văn L.
2. Về con chung: Giao con chung Vàng Thị Thảo V, sinh ngày 25/9/2016 cho anh Vàng Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lò Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Vàng Văn L không yêu cầu chị Lò Thị S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lò Thị S phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị S đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000471 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Chị Lò Thị S đã nộp đủ án phí HNGĐ-ST.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/03/2025). Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn; - Chi cục thi hành án Dân sự huyện Nậm Nhùn; - UBND xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ. /. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lý Đức Hiệp |