vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Đông.

Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Trường Giang, sinh ngày 09/8/2012 và Nguyễn Trường Dương, sinh ngày: 01/6/2010 cho anh Nguyễn Văn Đông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Bùi Thị Nga không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Đông.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠ HUOAI
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 01 - 2025
V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ông Lê Tiến Dũng:

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Trung Lan

Ông Đinh Trọng Hà

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Anh Hào – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Huề - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét sơ thẩm thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2024/TLST– HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXX-ST ngày 11/12/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/12/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đông, sinh năm: 1981 Địa chỉ: Tổ dân phố 2D, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Nga, sinh năm: 1980 Địa chỉ: Tổ dân phố 2D, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. (Anh Đông có mặt, chị Nga vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đông trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đông và chị Nga tự nguyện chung sống và có tiến hành đăng ký kết hôn với nhau tại UBND thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh (nay là huyện Đạ Huoai), tỉnh Lâm Đồng vào ngày 07/10/2009. Thời gian đầu vợ chồng anh chung sống với nhau bình thường. Khoảng 04 năm sau thì vợ chồng anh bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng anh bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Đến năm 2019 vợ chồng anh đã sống ly thân, không còn chung sống cùng nhau nữa, mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm chăm sóc cũng như không có ý định hàn gắn, đoàn tụ. Nay anh Đông yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Thị Nga.

Về con chung: Anh Đông xác định trong quá trình chung sống cùng nhau giữa anh và chị Bùi Thị Nga có hai con chung tên là Nguyễn Trường Giang, sinh ngày 09/8/2012 và Nguyễn Trường Dương, sinh ngày: 01/6/2010. Sau khi ly hôn anh Đông có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con. Anh Đông không yêu cầu chị Nga phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đông xác định giữa anh và chị Nga không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình tố tụng Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn chị Bùi Thị Nga nhưng chị Nga không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Nguyên đơn anh Đông có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Căn cứ vào khoản 3 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo kết quả phiên họp cho chị Nga.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng và nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Nguyễn Văn Đông. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Đông và chị Bùi Thị Nga được ly hôn; Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Trường Giang, sinh ngày 09/8/2012 và Nguyễn Trường Dương, sinh ngày: 01/6/2010 cho anh Đông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nga không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đông xác định giữa anh và chị Nga không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn Đông phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Xuất phát từ việc anh Nguyễn Văn Đông khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Bùi Thị Nga và sau khi ly hôn anh Đông có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Bị đơn chị Nga cư trú tại Tổ dân phố 2D, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Huoai (huyện Đạ Tẻh cũ), tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn chị Bùi Thị Nga đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo kết quả trả lời xác minh tại công văn số: 34/TL-CATT ngày 28/10/2024 của Công an thị trấn Đạ Tẻh thể hiện nội dung chị Nga có hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố 2D, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Huoai (huyện Đạ Tẻh cũ), tỉnh Lâm Đồng và hiện đi làm công nhân từ năm 2020 thỉnh thoảng có về địa phương. Tòa án đã nhiều lần đến tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho chị Nga nhưng chị Nga vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về. Vì vậy Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt các văn bản tố tụng có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố đồng thời thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Văn Đông và chị Bùi Thị Nga tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn với nhau tại UBND thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Huoai (huyện Đạ Tẻh cũ), tỉnh Lâm Đồng vào ngày 07/10/2009 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Ngày 28/10/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa anh Đông và chị Nga nhưng địa phương không nắm được tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh Đông chị Nga nên không cung cấp gì thêm. Quá trình giải quyết vụ Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Nga nhưng chị Nga không đến còn anh Đông xác định hiện nay không còn tình cảm gì với chị Nga đồng thời có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa anh Đông và chị Nga đã không chung sống với nhau từ lâu, mạnh ai nấy sống, không có sự yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau.

Từ những phân tích nêu trên có thể xác định mâu thuẫn giữa anh Đông và chị Nga đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đông, xử cho chị Nguyễn Văn Đông được ly hôn chị Bùi Thị Nga là có cơ sơ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung:

Anh Đông xác định trong quá trình chung sống cùng nhau giữa anh và chị Bùi Thị Nga có hai con chung tên là Nguyễn Trường Giang, sinh ngày 09/8/2012 và Nguyễn Trường Dương, sinh ngày: 01/6/2010. Quá trình giải quyết vụ án anh Đông cũng đã cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc anh có chỗ ở và thu nhập ổn định đồng thời cháu Giang và cháu Dương cũng có bản tự khai trình bày hiện nay hai cháu đang ở sống cùng với anh Đông và có nguyện vọng được ở với anh Đông. Chị Nga không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo nên Hội đồng xét xử không thể xem xét nguyện vọng của chị. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của cháu Giang và cháu Dương cũng như xem xét nguyện vọng của hai cháu, nhận thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Trường Giang và cháu Nguyễn Trường Dương cho anh Đông được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 6 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án anh Đông không yêu cầu chị Nga phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung:

Anh Đông xác định giữa anh và chị Bùi Thị Nga không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu sau này các bên có tranh chấp về chia tài sản chung và nợ chung thì sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí:

Buộc anh Nguyễn Văn Đông phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57 , Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Đông. Cho anh Nguyễn Văn Đông và chị Bùi Thị Nga được ly hôn.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Trường Giang, sinh ngày 09/8/2012 và Nguyễn Trường Dương, sinh ngày: 01/6/2010 cho anh Nguyễn Văn Đông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Chị Bùi Thị Nga không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đông phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008091 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh (nay là huyện Đạ Huoai), tỉnh Lâm Đồng. Xác nhận anh Đông đã nộp đủ án phí.

4. Về nghĩa vụ Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ