- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kim N- Phan văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Kim N và anh Phan Văn D được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-01-2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Trường
2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thái Kim N, sinh năm 1988 (có mặt)
Trú tại: Số A, đường P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Anh Phan Văn D, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Trú tại: Ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Thái Kim N trình bày: Chị và anh Phan Văn D chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2022 theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống đầm ấm, hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được. Vợ chồng ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phan Thái N1, sinh ngày 09/3/2021, cháu đang sống với chị N. Chị N yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Bị đơn anh Phan Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn anh Phan Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Kim N và anh Phan Văn D chung sống và có đăng ký kết hôn nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của chị N thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tình cảm ngày lạnh nhạt, không thể hàn gắn. Toà án đã triệu tập hợp lệ cho anh D, nhưng anh D vẫn không đến Toà án. Điều đó cho thấy anh D đã bỏ mặc cuộc hôn nhân của anh. Từ những nhận định trên cho thấy chị N, anh D mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị N yêu cầu ly hôn là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Quá trình sống chung chị N và anh D có 01 người con chung tên Phan Thái N1, sinh ngày 09/3/2021, đang sống chung với chị N. Chị N có nguyện vọng được nuôi con. Qua xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy rằng từ khi chị N và anh D ly thân thì cháu Phan Thái N1 sống chung với chị N và được chị N chăm sóc chu đáo. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống, cần ổn định cuộc sống hiện tại của cháu Thái N1. Vì quyền lợi mọi mặt của cháu Thái N1, nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị N nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nên anh D chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Thái Kim N phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Kim N và anh Phan Văn D được ly hôn.
Về con chung: Giao cháu Phan Thái N1, sinh ngày 09/3/2021 cho chị T Kim Ngân trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Thái N1 tròn 18 tuổi. Anh Phan Văn D chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Thái Kim N phải chịu là 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã đóng theo biên lai số 0003233 ngày 10 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị N đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Ngô Huỳnh |