vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R. Quan hệ hôn nhân của anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về quan hệ con chung: Giao cả hai cháu Lê Nam C - sinh ngày 04/01/2014 và cháu Lê Đoan T – sinh ngày 13/10/2015 cho anh Lê Mạnh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị R không phải cấp dưỡng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xét xử tuyên cho ly hôn giữa anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R. Quan hệ hôn nhân của anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày 20 - 02 - 2025
V/v: “Kiện ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Thị Hạnh

2. Bà Tưởng Thị Tuyết

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Toà án nhân dân huyện B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 20/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 96/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QĐST- HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Mạnh H - Sinh năm 1993

Địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai (vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị R - Sinh năm 1995

Địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Mạnh H trình bày: Anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R đăng ký kết hôn ngày 23/09/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do chị Hoàng Thị R bỏ đi làm ăn xa nhà không bàn bạc với anh Lê Mạnh H, không quan tâm đến kinh tế gia đình, chăm sóc con cái, anh Lê Mạnh H khuyên bảo nhiều lần nhưng chị Hoàng Thị R không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ tháng 06/2023 anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm lẫn kinh tế. Đến nay anh Lê Mạnh H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Lê Mạnh H được ly hôn chị Hoàng Thị R.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R có 02 người con chung cháu Lê Nam C - sinh ngày 04/01/2014, cháu Lê Đoan T – sinh ngày 13/10/2015. Hiện cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T đang ở cùng anh Lê Mạnh H. Khi ly hôn anh Lê Mạnh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Lê Nam C, Lê Đoan T đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Mạnh H không yêu cầu chị Hoàng Thị R phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Anh Lê Mạnh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Hoàng Thị R: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Hoàng Thị R nhưng tòa án không tống đạt được lý do không tống đạt được các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Hoàng Thị R là chị Hoàng Thị R có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn B, xã Q, huyện B nhưng thường xuyên đi làm ăn xa, thi thoảng mới về không ở ổn định tại nơi cư trú. Vì Vậy Tòa án tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Hoàng Thị R, chị Hoàng Thị R không đến Toà án nhân dân huyện B làm bản tự khai và không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ cũng không có văn bản trả lời về việc anh Lê Mạnh H có đơn xin ly hôn, nuôi con khi ly hôn. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về ly hôn: Xử cho anh Lê Mạnh H được ly hôn chị Hoàng Thị R

Về con chung: Giao cháu Lê Nam C - sinh ngày 04/01/2014, cháu Lê Đoan T – sinh ngày 13/10/2015 cho anh Lê Mạnh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị R không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Anh Lê Mạnh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với chị Hoàng Thị R có địa chỉ tại thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Nguyên đơn anh Lê Mạnh H không tham gia hòa giải, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh Lê Mạnh H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Hoàng Thị R vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Xét yêu cầu khởi kiện: Anh Lê Mạnh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị R.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R có đăng ký kết hôn ngày 23/09/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn chị Hoàng Thị R về sinh sống tại nhà của anh Lê Mạnh H. Quá trình chung sống anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị Hoàng Thị R bỏ đi làm ăn xa không bàn bạc với anh Lê Mạnh H, không quan tâm đến kinh tế gia đình, chăm sóc con cái, anh Lê Mạnh H khuyên bảo nhiều lần nhưng chị Hoàng Thị R không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Quá trình Tòa án giải quyết chị Hoàng Thị R không đến tòa án để làm bản tự khai cũng như có ý kiến về việc xin ly hôn, nuôi con của anh Lê Mạnh H. Tại biên bản xác minh ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện B về việc chị Hoàng Thị R có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã Q thì được ông Lý A Liều là trưởng thôn cho biết: Chị Hoàng Thị R không thường xuyên sinh sống tại nơi cư trú, thường xuyên đi làm ăn xa, thi thoảng mới về nhà, mỗi lần chị Hoàng Thị R về nhà vợ chồng chị Hoàng Thị R và anh Lê Mạnh H lại đánh cãi chửi nhau, trưởng thôn phải sang can thiệp rất nhiều lần. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Mạnh H đối với chị Hoàng Thị R.

Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R có 02 người con chung Lê Nam C - sinh ngày 04/01/2014, cháu Lê Đoan T – sinh ngày 13/10/2015. Khi ly hôn anh Lê Mạnh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Lê Mạnh H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) anh Lê Mạnh H cho rằng chị Hoàng Thị R đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà, không có thời gian chăm sóc các con, không lo toan kinh tế gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con anh Lê Mạnh H không yêu cầu chị Hoàng Thị R phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét việc giao nuôi con thì anh Lê Mạnh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu Lê Nam C - sinh ngày 04/01/2014 và cháu Lê Đoan T – sinh ngày 13/10/2015 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) Việc nuôi con khi thông báo tiếp cận công khai chứng cứ cũng đã ghi quan điểm của anh Lê Mạnh H về việc để anh Lê Mạnh H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T, chị Hoàng Thị R không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lê Mạnh H, chị Hoàng Thị R không đến Tòa án để làm bản tự khai và cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc có đủ điều kiện để nuôi con hay không và không có ý kiến gì về việc anh Lê Mạnh H đề nghị được nuôi cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T, hiện cả hai cháu Lê Nam C và Lê Đoan T đang ở cùng anh Lê Mạnh H, tại biên bản lấy ý kiến của con là cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T ngày 12/11/2024 cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T đều có ý kiến xin được ở với anh Lê Mạnh H. Anh Lê Mạnh H có đơn đề nghị ủy ban nhân dân xã Q xác nhận mức thu nhập lao động tự do tại địa phương là từ 250 đến 300 trăm nghìn đồng/ ngày. Hiện nay chị Hoàng Thị R thường xuyên vắng nhà nên không có thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái. Vì vậy căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình giao cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T cho anh Lê Mạnh H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Hoàng Thị R không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lê Mạnh H.

Về tài sản chung: Anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Lê Mạnh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

Từ những nhận định trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R. Quan hệ hôn nhân của anh Lê Mạnh H và chị Hoàng Thị R chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về quan hệ con chung: Giao cả hai cháu Lê Nam C - sinh ngày 04/01/2014 và cháu Lê Đoan T – sinh ngày 13/10/2015 cho anh Lê Mạnh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Lê Nam C và cháu Lê Đoan T đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị R không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con chị Hoàng Thị R được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Lê Mạnh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002876 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Xác nhận anh Lê Mạnh H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.

4. Quyền kháng cáo: Anh Lê Mạnh H, chị Hoàng Thị R được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ