vanban.org

Bản án 01/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị H.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Lương Thị H và anh Lô Văn V là vợ chồng. Về án phí: Chị Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0001087 ngày 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Lương Thị H và anh Lô Văn V"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị H và anh Lô Văn V; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị H và anh Lô Văn V; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị H và anh Lô Văn V
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 01 năm 2025
V/v tranh chấp về nuôi con, chia tài sản
của nam, nữ chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Vi Thị Khuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Quỳnh;

Bà Bùi Thị Nga.

- Thư ký phiên toà: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1982;

Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lô Văn V; sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị H vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lương Thị H trình bày:

Về quan hệ tình cảm: Chị và anh Lô Văn V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999, không đăng ký kết hôn tại UBND xã phường, thị trấn mà chỉ tổ chức lễ cưới, mời hai họ, anh em tới dự lễ cưới theo phong tục tại địa phương. Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, lối sống của hai bên có sự khác biệt dẫn đến không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Từ năm 2023, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên gia đình nội ngoại đã hòa giải, hàn gắn nhưng không thành, vợ chồng sống ly thân từ tháng đầu năm 2024 cho đến nay. Thấy rằng tình cảm không còn chị Lương Thị H không muốn tiếp tục chung sống đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố chị và anh Lô Văn V không phải là vợ chồng.

Về con chung: Chị H và anh V có 02 con chung là cháu Lô Văn T, sinh ngày 14/9/2003 và cháu Lô Văn D, sinh ngày 29/8/2006, hiện tại các con đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên không yêu cầu giải quyết vấn đề con chung.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị H và anh V có một số tài sản chung, tuy nhiên hai bên đã thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Tại phiên tòa bị đơn anh Lô Văn V vắng mặt, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, anh Lô Văn V trình bày:

Về quan hệ tình cảm: Anh Lô Văn V thừa nhận về thời điểm chung sống, phong tục, tập quán về việc chung sống đúng như chị Lương Thị H trình bày. Anh và chị H về sống chung thì cuộc sống hôn nhân của hai người diễn ra bình thường. Về sau phát sinh mâu thuẫn như chị H đã trình bày. Nay chị H làm đơn ly hôn thì anh đồng ý vì giữa anh và chị H không còn tình cảm với nhau, đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận anh và chị Lương Thị H là vợ chồng.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Lô Văn T, sinh ngày 14/9/2003 và cháu Lô Văn D, sinh ngày 29/8/2006, hiện tại các con đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên không yêu cầu giải quyết vấn đề con chung.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lương Thị H và anh Lô Văn V có một số tài sản chung, tuy nhiên hai bên đã thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 23/12/2024, Ủy ban nhân dân xã C cho biết: Chị Lương Thị H và anh Lô Văn V có tổ chức đám cưới, về chung sống với nhau từ năm 1999 nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; trong quá trình chung sống với nhau, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên, về sau phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, có cuộc sống riêng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 9, 14 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lương Thị H và anh Lô Văn V là vợ chồng; về con chung: Các con chung đều đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) các đương sự không có yêu cầu gì về con chung nên không xem xét; về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lương Thị H và anh Lô Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Chị Lương Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lương Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Lô Văn V là vợ chồng, bị đơn anh Lô Văn V có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Tranh chấp về nuôi con, tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 7 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lương Thị H vắng mặt phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt); bị đơn anh Lô Văn V vắng mặt phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt). Trong quá trình giải quyết các đương sự đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207, 208 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ tình cảm chung sống với nhau như vợ chồng: Chị Lương Thị H và anh Lô Văn V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999 đến nay, không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chỉ làm lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nên theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì quan hệ giữa chị Lương Thị H và anh Lô Văn V không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ và chồng. Sau thời gian chung sống với nhau thì giữa hai người phát sinh nhiều nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do do tính cách, lối sống của hai bên có sự khác biệt dẫn đến không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Từ năm 2023, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên gia đình nội ngoại đã hòa giải, hàn gắn nhưng không thành, vợ chồng sống ly thân từ tháng đầu năm 2024 cho đến nay. Nay tình cảm không còn chị Lương Thị H không muốn tiếp tục chung sống đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận chị và anh Lô Văn V là vợ chồng. Xét thấy, việc chung sống, thời gian chung sống giữa chị Lương Thị H và anh Lô Văn V là đúng thực tế, nay có bên yêu cầu ly hôn nên căn cứ các Điều 9, 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị H và anh Lô Văn V không phải là vợ chồng.

Về con chung: Chị Lương Thị H và anh Lô Văn V có 02 con chung là cháu Lô Văn T, sinh ngày 14/9/2003 và cháu Lô Văn D, sinh ngày 29/8/2006, hiện tại các con đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị H và anh V không có yêu cầu gì về vấn đề con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lương Thị H và anh Lô Văn V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lương Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị H.

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Lương Thị H và anh Lô Văn V là vợ chồng.

2. Về án phí: Chị Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0001087 ngày 11/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. (Chị Lương Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm).

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ