vanban.org

Bản án 01/2025/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 17/03/2025 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Đoàn Văn Th - UBND huyện C, tỉnh Gia Lai"
  • Căn cứ chính? Điều 152 Luật Đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số nghị định…; Điều 101 Luật Đất đai
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
TỈNH!GIA!LAI!
!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HC-ST
Ngày 17/3/2025

“V/v" khiếu" kiện" quyết" định" hành" chính," hành" vi" hành" chính"trong"lĩnh"vực"quản"lý" đất"đai”!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!GIA!LAI!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Đinh Thị Như Phượng "

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Trần Minh Đức"

"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""Ông Võ Hoàng."

- Thư ký phiên toà: Bà Lữ Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án của Toà án

nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLST-HC ngày 03 tháng 10 năm 2024 về “Khiếu"kiện"quyết"định"hành"chính,"hành"vi"hành"chính"trong"lĩnh"vực" quản"lý"đất"đai”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HC ngày 06

tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Người"khởi"kiện: Ông Đoàn Văn Th.

Địa chỉ: Số 191 thôn Thủy Phú, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người"bị"kiện: Ủy ban nhân dân huyện C.

Địa chỉ trụ sở: Số 05 đường Nguyễn Tất Thành, thị trấn N, huyện C, tỉnh

Gia Lai.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền: Ông Nguyễn Minh T; chức vụ: Phó Chủ

tịch Ủy ban nhân dân huyện C. (Theo"Văn"bản"ủy"quyền"số"1502/GUQ-UBND" ngày"30/10/2024"của"Ủy"ban"nhân"dân"huyện"C).

Địa chỉ: Số 05 đường Nguyễn Tất Thành, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia

Lai. Có mặt.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện: Ông Nguyễn

Thanh Q; chức vụ: Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện C.

Địa chỉ: Số 02 đường Nguyễn Tất Thành, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia

Lai. Có mặt.

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:

- Ông Lê Quang T và bà Lê Thị H; địa chỉ tại thôn Phú An, xã I, huyện C,

tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai, chi nhánh huyện C; trụ sở tại:

Số 05 đường Nguyễn Tất Thành, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Người"đại"diện"theo"pháp"luật: Ông Vũ Đình T; chức vụ: Giám đốc Văn

phòng Đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai, chi nhánh huyện C. Có mặt.

- Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (thông" qua"

Phòng"giao"dịch"C"thuộc"chi"nhánh"Gia"Lai"của"Ngân"hàng"thương"mại"cổ"phần" Công"thương"Việt"Nam); trụ sở tại: 182 Hùng Vương, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt và có văn bản từ chối tham gia tố tụng.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

!

1. Người!khởi!kiện!trình!bày:!!

Ngày 02/8/2004, ông Đoàn Văn Th nhận chuyển nhượng 2.400 m2 đất tại

thôn Hòa Sơn, xã I, huyện S (nay" là" xã" I," huyện" C," tỉnh" Gia" Lai)" của ông Nguyễn T.

Hiện tại, sau khi đo đạc lại đất thì thực tế đất có diện tích là 1.336 m2 có

tứ cận như sau:

- Phía Đông giáp suối cạn, kích thước 12,29 mét;

- Phía Tây giáp Quốc lộ 14, kích thước 10 mét;

- Phía Nam giáp đất của ông Hoàng Trọng C, kích thước 153,10 mét;

- Phía Bắc giáp đất của ông Trần Văn H, kích thước 160,30 mét.

Khi các bên chuyển nhượng đất được Ủy ban nhân dân xã I xác nhận. Sau

khi nhận chuyển nhượng, ông đã sử dụng đất ổn định từ đó đến nay và không phát sinh tranh chấp với ai, nhưng chưa có điều kiện để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2019, ông đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

thì mới được thông báo theo kết quả đo đạc, lập hồ sơ địa chính năm 1997 đã được Sở Địa chính Gia Lai ký duyệt thì thửa đất của ông đang sử dụng thuộc một phần thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76; theo kết quả đo đạc, lập hồ sơ địa chính năm 2014 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai ký duyệt thuộc thửa đất số 146, tờ bản đồ số 65; theo hồ sơ địa chính, thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, diện tích 1.323 m2 (trong"đó"có"400m2"đất"ở) đã được Ủy ban nhân dân huyện S (nay" thuộc" huyện" C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 ngày 13/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Minh B.

Ngày 11/12/2007, ông Nguyễn Minh B và bà Nguyễn Thị U đã chuyển

nhượng cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H, được Ủy ban nhân dân huyện S (nay" thuộc" huyện" C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25/01/2008 tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, diện tích 1.323m2 (trong" đó"có"400m2"đất" ở); qua kiểm tra vị trí đất của ông T và bà H đang sử dụng thuộc các thửa đất số 112, 113, 114 và 117, tờ bản đồ số 76 theo kết quả đo đạc năm 1997; và thuộc thửa đất số 150, tờ bản đồ số 65 theo kết quả đo đạc năm 2014.!

Thực tế diện tích đất ông nhận chuyển nhượng và sử dụng ổn định từ năm

2004 đến nay có một phần diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76 (bị"cấp"chồng"1.323m2). Các diện tích đất của ông T và bà H đang sử dụng thuộc các thửa đất số 112, 113, 114 và 117, tờ bản đồ số 76"(cách"vị"trí"đất"ông" đang"sử"dụng"98"mét).

Qua kiểm tra, đối chiếu diện tích đất ông đang sử dụng cũng như đất của

ông T, bà H đang sử dụng trên thực tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C đã kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 do Uỷ ban nhân dân huyện S (nay" thuộc" huyện" C)" cấp cho hộ ông Nguyễn Minh B vào ngày 13/12/1999 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Ủy ban nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, diện tích 1323 m2(trong" đó"có"400"m2"đất"ở) không đúng quy định của pháp luật về đất đai (cấp"không" đúng"đối"tượng).

Cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý về đất đai đã kết luận

việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông B vào năm 1999 cũng như việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Ủy ban nhân dân huyện S cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, diện tích 1323 m2 là không đúng quy định của pháp luật về đất đai. Ngoài ra, giữa ông với ông Lê Quang T và bà Lê Thị H không phát sinh tranh chấp trong quá trình sử dụng đất, bản thân ông cũng như ông T, bà H đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà H để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông và gia đình ông T, bà H theo đúng hiện trạng sử dụng nhưng Uỷ ban nhân dân huyện C trả lời việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Uỷ ban nhân dân huyện S cấp ngày 25/01/2008 và cấp mới lại là không thể thực hiện được.

Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Ủy ban nhân

dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai thực hiện việc cấp Giấy

2

chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 1336 m đất thuộc thửa đất 104, tờ bản đồ số 76 cho ông.

2. Người!đại!diện!theo!ủy!quyền!của!người!bị!kiện!trình!bày:!

Năm 2004, ông Đoàn Văn Th nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn T

(việc mua bán có giấy viết tay có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã I), đất có diện tích 1.336 m2 thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, đất có tứ cận như sau:

- Phía Đông giáp suối cạn;

- Phía Tây giáp đường Quốc lộ 14;

- Phía Nam giáp thửa đất của ông Hoàng Trọng C;

- Phía Bắc giáp thửa đất của ông Trần Văn H.

Xung quanh thửa đất có hàng rào cố định, ông Th sử dụng đất ổn định để

trồng cây hàng năm, không tranh chấp với ai.

Về vị trí đất thực tế của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê

Quang T và bà Lê Thị H nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Minh B và bà Nguyễn Thị U thì có tọa độ vị trí địa lý trung tâm là (456718,1491882), cách vị trí thửa đất ông Đoàn Văn Th sử dụng khoảng 98m dọc theo Quốc lộ 14, hiện trạng sử dụng ổn định, không tranh chấp.

Theo kết quả đo đạc, lập hồ sơ địa chính năm 1997 đã được Sở Địa chính

tỉnh Gia Lai ký duyệt thì thửa đất ông Đoàn Văn Th đang sử dụng thuộc một phần thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76 (theo"kết"quả"đo"đạc,"lập"hồ"sơ"địa"chính" năm"2014"của"Công"ty"Gia"T"đã"được"Sở"Tài"nguyên"và"Môi"trường"ký"duyệt" thuộc"thửa"đất"số"146,"tờ"bản"đồ"số"65). Thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76 này có diện tích 1.323m² (trong"đó"có"400"m²"đất"ở) đã được Ủy ban nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 ngày 13/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Minh B.

Ngày 11/12/2007, ông Nguyễn Minh B và bà Nguyễn Thị U chuyển

nhượng cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H, được Ủy ban nhân dân huyện S (nay" thuộc" huyện" C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25/01/2008.

Hiện trạng sử dụng đất ông Lê Quang T và bà Lê Thị H đang sử dụng

thuộc các thửa đất số 112, 113, 114 và 117, tờ bản đồ số 76 theo kết quả đo đạc lập hồ sơ địa chính năm 1997 đã được Sở Địa chính tỉnh Gia Lai ký duyệt (kết" quả"đo"đạc,"lập"hồ"sơ"địa"chính"năm"2014"của"Công"ty"Gia"T"đã"được"Sở"Tài" nguyên"và"Môi"trường"ký"duyệt"thì"thuộc"thửa"đất"số"150,"tờ"bản"đồ"số"65).

Đối chiếu với các kết quả kiểm tra thì thửa đất ông Đoàn Văn Th đang sử

dụng có một phần diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76. Tuy nhiên, vị trí thửa đất thực tế ông Lê Quang T và bà Lê Thị H đang sử dụng thuộc các thửa đất số 112, 113, 114 và 117, tờ bản đồ số 76, tọa độ vị trí địa lý trung tâm là (456918,1491882). Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 do Ủy ban nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp ngày 13/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Minh B và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Ủy ban nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, diện tích 1323m² (trong"đó"có"400m²"đất"ở)"là không đúng theo quy định của pháp luật về đất đai (cấp"không"đúng"đối"tượng"sử"dụng"đất).

Căn cứ điểm d khoản 2 và khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024:

“4." Cơ" quan" có" thẩm" quyền" cấp" Giấy" chứng" nhận" quyền" sử" dụng" đất,"

quyền"sở"hữu"tài"sản"gắn"liền"với"đất"quy"định"tại"Điều"136"của"Luật"này"không" thu"hồi"giấy"chứng"nhận"đã"cấp"trong"các"trường"hợp"quy"định"tại"điểm"d"khoản" 2"Điều"này"nếu"người"được"cấp"giấy"chứng"nhận"đã"thực"hiện"chuyển"quyền"sử" dụng"đất,"quyền"sở"hữu"tài"sản"gắn"liền"với"đất"theo"quy"định"của"pháp"luật"về" đất"đai."Việc"xử"lý"thiệt"hại"do"việc"cấp"giấy"chứng"nhận"tại"khoản"này"thực"hiện" theo"bản"án,"quyết"định"của"Tòa"án."Người"có"hành"vi"vi"phạm"bị"xử"lý"theo"quy" định"tại"Điều"239"và"Điều"240"của"Luật"này"và"quy"định"khác"của"pháp"luật"có" liên"quan.""

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét, giải quyết vụ án theo quy

định của pháp luật.

3. Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan!là!ông!Lê!Quang!T!trình!

bày:

Thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, diện tích 1.323 m2 tại Hòa Sơn, xã I,

huyện C, tỉnh Gia Lai được Ủy ban nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25/01/2008 là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông, có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Minh B khoảng tháng 12 năm 2007. Sau khi nhận chuyển nhượng ông được gia đình ông B bàn giao toàn bộ diện tích đất và thực tế đã quản lý và canh tác liên tục từ năm 2007 cho đến nay. Quá trình sử dụng không có tranh chấp về ranh, mốc giới với các chủ sử dụng đất liền kề xung quanh khác.

Về thửa đất của ông Đoàn Văn Th, thực tế thửa đất của ông nằm cách

thửa đất của ông Th khoảng 100 mét theo hướng từ Gia Lai đi Đắk Lắk, hai bên không tiếp giáp về ranh, mốc giới với nhau và không có tranh chấp gì.

Theo thông tin ông được Tòa án thông báo thì thửa đất ông nhận chuyển

nhượng này chồng lên toàn bộ hiện trạng sử dụng đất của ông Th, sự việc này ông không được biết, nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật, ông sẵn sàng hợp tác để giải quyết vụ việc được nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi của ông và ông Th.

4.!Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan!là!Văn!phòng!Đăng!ký!đất!

đai!tỉnh!Gia!Lai,!chi!nhánh!huyện!C!trình!bày:!

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết vụ án theo quy định của

pháp luật.

5.!Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan!là!Ngân!hàng!TMCP!Công!

Thương,!chi!nhánh!Gia!Lai!trình!bày:!! !

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Gia Lai cho ông

Lê Quang T và bà Lê Thị H (cùng"địa"chỉ"tại:"Thôn"Phú"An,"xã"Ia"Le,"huyện"C," tỉnh" Gia" Lai) vay 700.000.000 đồng (Bảy" trăm" triệu" đồng), thời hạn vay 12 tháng từ ngày 17/10/2024 đến ngày 17/10/2025, theo Hợp đồng cho vay số 463/2024-HĐCV/NHCT500-LE THỊ HAI ngày 17/10/2024 giữa Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Gia Lai – PGD C và khách hàng là ông/bà: Lê Quang T – Lê Thị H được đảm bảo bằng tài sản thế chấp thể hiện tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 714/2021/HĐBĐ/NHCT500 ngày 28/12/2021, tài sản đảm bảo cụ thể là:

Tài"sản"đảm"bảo"1: Giá trị quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền

với đất tại thôn Phú An, xã Ia Le, huyện C, tỉnh Gia Lai. Thửa đất số: 373a, tờ bản đồ số: 30. Tổng diện tích đất: 71.6 m², trong đó: diện tích đất ở tại nông thôn 71.6 m² (Theo" Giấy" chứng" nhận" quyền" sử" dụng" đất" số" AH" 720963" do" UBND"huyện"S,"tỉnh"Gia"Lai"cấp"ngày"04/04/2017,"số"vào"số"cấp"GCN"QSDĐ:" H00183).

Tài"sản"đảm"bảo"2: Giá trị quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền

với đất tại Thôn Hòa Sơn, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Thửa đất số: 104, tờ bản đồ số: 76. Tổng diện tích đất: 1323 m², trong đó: diện tích đất ở tại nông thôn 400 m², diện tích đất nông nghiệp khác 923 m² (Theo"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử" dụng"đất"số"AL."684689"do"UBND"huyện"S,"tỉnh"Gia"Lai"cấp"ngày"25/01/2008," số"vào"sổ"cấp"GCN"QSDĐ:"H00107)."

Tài"sản"đảm"bảo"3: Giá trị quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền

với đất tại Tổ dân phố 4, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai. Thửa đất số: 81, tờ bản đồ số: 73. Tổng diện tích đất: 500 m², trong đó: diện tích đất ở tại đô thị 200 m², diện tích đất nông nghiệp 300 m² (Theo"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất" số"AH"748505"do"UBND"huyện"S,"tỉnh"Gia"Lai"cấp"ngày"02/05/2007,"số"vào"sổ" cấp"GCN"QSDĐ:"H00428)."

Tuy nhiên, ngày 20/12/2024 bà Lê Thị H đã thực hiện tất toán toàn bộ

khoản vay tại Ngân hàng; Ngân hàng Công thương đã xuất toàn bộ tài sản đảm bảo nêu trên giao lại cho bà Lê Thị H, ông Lê Quang T theo đúng quy định. Do đó, việc giải quyết vụ án nêu trên Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam không còn là bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Đại diện Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam theo văn bản ủy

quyền thường xuyên tham gia tố tụng số 652/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 25/06/2024 của Chủ tịch HĐQT đề nghị được từ chối tham gia tố tụng.

Tại"phiên"tòa:"

- Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và người đại diện theo

pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Gia Lai, chi nhánh huyện C đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193

của Luật tố tụng hành chính; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện; buộc người bị kiện phải chịu án phí hành chính. Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ của người khởi kiện.

!!

!

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

[1]. Về tố tụng:

[1.1]."Về đối tượng khởi kiện:

Người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Ủy ban nhân

dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai thực hiện việc cấp Giấy

2

chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 1336 m đất thuộc thửa đất 104, tờ bản đồ số 76 cho ông.

Khoản 1 Điều 6 Luật tố tụng hành chính quy định, trong quá trình giải

quyết vụ án hành chính, Tòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính có liên quan đến quyết định hành chính bị kiện.

Xét thấy, nguồn gốc đất ông Lê Quang T và bà Lê Thị H được Ủy ban

nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25/01/2008 là nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Minh B. Hộ ông Nguyễn Minh B được Ủy ban nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 do cấp ngày 13/12/1999. Do đó, đây là quyết định hành chính có liên quan.

Các quyết định hành chính và hành vi hành chính thuộc này là đối tượng

khởi kiện của vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện:

Năm 2019, ông Đoàn Văn Th đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất thì biết được thửa đất mà ông nhận chuyển nhượng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh B, bà Nguyễn Thị U. Ông đã liên tục khiếu nại, kiến nghị đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên yêu cầu khởi kiện vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện: Người khởi kiện khiếu kiện

quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân huyện C, nên theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Ngày 02/8/2004, ông Đoàn Văn Th nhận chuyển nhượng 2400 m2

đất (hiện"nay"thực"tế"còn"sử"dụng"1.336"m2"đất) tại thôn Hòa Sơn, xã I, huyện S (nay"là"xã"la"Phang,"huyện"C,"tỉnh"Gia"Lai)"của ông Nguyễn T. Hai bên có viết giấy tay và được Ủy ban nhân dân xã I xác nhận. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Th đã sử dụng đất ổn định và không phát sinh tranh chấp, nhưng chưa làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến năm 2019, ông Đoàn Văn Th đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất thì được biết thửa đất này đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh B, bà Nguyễn Thị U và hiện nay đã chuyển nhượng cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H. Ông T, bà H được Ủy ban nhân dân huyện S (nay" thuộc" huyện" C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25/01/2008.

Tại Văn bản số 1833/UBND-NC ngày 25/12/2024 của Ủy ban nhân dân

huyện C về việc ghi ý kiến đối với vụ án, Ủy ban nhân dân huyện C đã xác định thửa đất ông Đoàn Văn Th đang sử dụng có một phần diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76. Tuy nhiên, vị trí thửa đất thực tế ông Lê Quang T và bà Lê Thị H đang sử dụng lại thuộc các thửa đất số 112, 113, 114 và 117, tờ bản đồ số 76, tọa độ vị trí địa lý trung tâm là (456918, 1491882). Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 do Ủy ban nhân dân huyện S (nay" thuộc"huyện"C) cấp ngày 13/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Minh B, bà Nguyễn Thị U và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Ủy ban nhân dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76, diện tích 1.323m² (trong" đó"có"400m²"đất"ở) là không đúng theo quy định của pháp luật về đất đai (cấp" không"đúng"đối"tượng"sử"dụng"đất).

[2.2]. Kết quả tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/11/2024

của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai cũng thể hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25 tháng 01 năm 2008 ghi tên chủ sử dụng đất “Nguyễn Minh B" (hiện"đã"chuyển"nhượng"cho"ông"Lê"Quang"T,"bà"Lê"Thị"H) đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76 là nằm hoàn toàn trong phạm vi thửa đất mà thực tế ông Đoàn Văn Th đang sử dụng. Vị trí hiện trạng sử dụng đất của ông Th là thuộc các thửa đất số 104, 110, 110a, tờ bản đồ số 76. Vị trí hiện trạng sử dụng đất của ông T là thuộc các thửa đất số 113, 114, 117, tờ bản đồ số 76. Cụ thể như sau:

- Thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76 tại thôn Hòa Sơn, xã I, huyện C, tỉnh

Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện S (nay là huyện C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25 tháng 01 năm 2008 hiện đang do ông Lê Quang T, bà Lê Thị H quản lý, sử dụng có tứ cận như sau:

Phía Đông giáp phần đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất của ông Lê Quang T; kích thước 25,96 mét;

Phía Tây giáp Quốc lộ 14; kích thước 7,64 mét + 12,11 mét + 4,47 mét.

Phía Nam giáp thửa đất của bà Vân; kích thước 52,26 mét;

Phía Bắc giáp phần đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất của ông Lê Quang T; kích thước 50,39 mét;

Diện"tích"1275,2"m²."

- Theo ranh, mốc giới do ông Đoàn Văn Th xác định, thì phần đất do ông

đang sử dụng tại Thôn Hòa Sơn, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai có tứ cận như sau:

Phía Đông giáp suối cạn, kích thước 12,29 mét;

Phía Tây giáp Quốc lộ 14; kích thước 10 mét;

Phía Nam giáp thửa đất của ông Hoàng Trọng C; kích thước 153,10 mét;

Phía Bắc giáp thửa đất của ông Trần Văn H; kích thước 160,30 mét;

Ranh, mốc giới phía Nam của thửa đất (giáp" với" ông" Hoàng" Trọng" C)"

bằng cọc bê tông, kích thước 10 x10 cm, cao 1,5 mét.

Ranh, mốc giới phía Bắc của thửa đất (giáp"với"ông"Trần"Văn"H) bằng

cọc gỗ xen cây sống không xác định số lượng, lượng, chủng loại.

Diện"tích"1.567,3"m2."""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""

[2.3]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Quang T cũng

trình bày thực tế thửa đất gia đình ông đang sử dụng nằm cách thửa đất của ông Th khoảng 100 mét theo hướng từ Gia Lai đi Đak Lak, hai bên không tiếp giáp về ranh, mốc giới với nhau và không có tranh chấp gì. Ông không biết việc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 76 của ông được Ủy ban nhân dân huyện S (đất"nay" thuộc"huyện"C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 ngày 25 tháng 01 năm 2008 bị chồng lên toàn bộ hiện trạng sử dụng đất của ông Th. Ông sẵn sàng hợp tác để giải quyết vụ việc được nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi của ông và ông Th.

[2.4]. Từ những phân tích trên, thấy rằng việc Ủy ban nhân dân huyện S

(nay"thuộc"huyện"C)"cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 ngày 13/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Minh B, bà Nguyễn Thị U và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H là không đúng theo quy định của pháp luật về đất đai.

Do đó, người khởi kiện yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất trên là có căn cứ để chấp nhận.

[2.5] Về yêu cầu khởi kiện buộc Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện việc

2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 1336 m đất thuộc thửa đất 104, tờ bản đồ số 76 cho ông Đoàn Văn Th thì thấy rằng:

Do Ủy ban nhân dân huyện cấp các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

bị khởi kiện là không đúng theo quy định của pháp luật như đã phân tích bên trên, nên cần thiết phải xác định lại diện tích đất ông Đoàn Văn Th và gia đình ông Lê Quang T, bà Lê Thị H đang sử dụng thực tế để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông Lê Quang T, bà Lê Thị H, đồng thời xem xét hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đoàn Văn Th theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận, nên ông Đoàn

Văn Th không"pH chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ

thẩm.

4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ông Đoàn Văn Th tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là

13.000.000 đồng.

Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 116, Điều 191, Điều 193, Điều

194, Điều 206 của Luật tố tụng hành chính; Điều 32 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 170 của Bộ luật Dân sự; Điều 50, Điều 52 của Luật Đất đai

năm 2003; Điều 101, Điều 105 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 136, Điều 137 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 70 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Điều 28, Điều 31, Điều 36 của Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2025 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn Th về việc:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 674598 do Ủy ban nhân

dân huyện S (nay" thuộc" huyện" C) cấp ngày 13/12/1999 cho hộ ông Nguyễn Minh B (Quyết"định"hành"chính"liên"quan).

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 684689 do Ủy ban nhân

dân huyện S (nay"thuộc"huyện"C) cấp ngày 25/01/2008 cho ông Lê Quang T và bà Lê Thị H.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc

xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thực tế sử dụng của ông Đoàn Văn Th và ông Lê Quang T, bà Lê Thị H theo quy định của pháp luật.

2.!Về!án!phí:!!

Ông Đoàn Văn Th không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, hoàn trả

cho ông Đoàn Văn Th số tiền 300.000 đồng (Ba"trăm"nghìn"đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000149 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai;

Buộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai phải chịu 300.000 đồng (Ba"

trăm"nghìn"đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.

3.!Về!chi!phí!tố!tụng:!

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đoàn Văn Th về việc tự nguyện chịu số

tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 13.000.000 đồng (Mười"ba"triệu"đồng).

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại

phiên tòa có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ