- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp HĐ góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/DS-ST Ngày: 10-7-2025 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Thanh Long.
Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thúy Lam - Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 391/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2025 và Thông báo về việc dời ngày mở phiên tòa số 38/TB-HĐXXST ngày 30 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị A, sinh năm: 1974 (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1965 (Vắng mặt không lý do).
Cùng địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09-01-2024, bản tự khai ngày 03-01-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lâm Thị A trình bày:
Vào ngày 26-9-2019 âm lịch (ngày 24-10-2019 dương lịch), bà làm đầu thảo có mở dây hụi mùa 3.000.000 đồng (dây số 3), gồm 15 phần, hụi khui mỗi năm ba lần theo hình thức bỏ thăm, ai kêu thăm cao thì được hốt hụi, đầu thảo hưởng hoa hồng 900.000 đồng/lần khui hụi, bà có lập sổ hụi, có giao danh sách hụi cho hụi viên giữ. Giao kết trong vòng 07 ngày sau khi khui thì các hụi viên phải đóng tiền hụi đầy đủ để đầu thảo giao tiền cho người được hốt. Đến lần khui thứ hai ngày 27-02-2020 âm lịch, bà Nguyễn Thị C tham gia chơi 01 phần, bà C kêu 1.200.000 đồng, trúng thăm hốt được số tiền (sau khi trừ hoa hồng đầu thảo) nhận đủ là 22.500.000 đồng, có ký nhận tiền với bà. Sau khi hốt, bà C có đóng lại hụi chết được 02 lần. Từ lần khui thứ năm (ngày 17-02-2021 âm lịch) về sau bà C không đóng hụi chết nữa. Nên bà phải xuất tiền riêng của bà chàng hụi thay. Sau đó, bà có đòi nhiều lần, nhưng bà C cứ hứa hẹn mà không chịu trả tiền nợ hụi. Bà đã có đơn khởi kiện gửi Tòa án yêu cầu bà C trả nợ hụi, đã được giải quyết theo Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án, được Tòa án ban hành Quyết định số 84/2023/QĐCNHGT-DS ngày 05-10-2023 công nhận kết quả hòa giải thành về việc bà C tự nguyện trả tiền nợ hụi chết từ lần khui thứ năm (ngày 17-02-2021 âm lịch) đến lần khui thứ mười hai (ngày 07-5-2023 âm lịch) cho bà bằng số tiền 22.000.000 đồng. Sau đó, dây hụi khui lần thứ mười ba (ngày 07-10-2023) đến lần thứ mười lăm là mãn hụi (ngày 02-6-2024) thì bà C vẫn không đóng tiền hụi chết, nên bà đã khởi kiện bổ sung yêu cầu bà C tiếp tục trả tiền nợ hụi 03 lần bằng 9.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo triệu tập của Tòa cho bị đơn bà Nguyễn Thị C tại địa chỉ ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long), nhưng bà C đều không đến Tòa trong các buổi mời làm việc. Qua xác minh với chính quyền địa phương ấp A C1 cho biết từ trước nay bà C có đăng ký thường trú và vẫn đang sinh sống tại địa phương này. Bà C đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bà A có mặt giữ nguyên yêu cầu bà C trả số tiền nợ hụi 9.000.000 đồng. Đối với bà C vắng mặt nên không có lời trình bày. Các đương sự không không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này, Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Việc chấp hành pháp luật của đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, đối với nguyên đơn bà A đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự; Đối với bị đơn bà C không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Vị đề nghị căn cứ vào quy định tại các Điều 357, 468, 471 của Bộ luật Dân sự; các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 16, 24 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu phường: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị A; Buộc bà Nguyễn Thị C phải trả cho bà A số tiền nợ hụi là 9.000.000 đồng; Trường hợp bà C chậm trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, V đề nghị nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lâm Thị A có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị C trả tiền nợ hụi. Nên đây là tranh chấp hợp đồng góp hụi, được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với bà C có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Nay là ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long). Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long (Trước đây là Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh) thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về xác định tư cách người tham gia tố tụng: Bà A khởi kiện yêu cầu một mình bà C trả tiền nợ hụi. Nên xác định bà A là nguyên đơn, bà C là bị đơn. Các đương sự không tranh chấp hay yêu cầu gì với ai khác trong cùng vụ án, nên không phát sinh thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về thủ tục tố tụng: Đối với bà C là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo triệu tập đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên đối chất, nhưng bà C đều vắng mặt. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà C tham gia phiên tòa xét xử vụ án đến lần thứ hai, nhưng bà C vẫn vắng mặt không lý do. Nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà C theo luật định.
Về phần yêu cầu đòi tiền nợ hụi của bà Lâm Thị A:
Theo Điều 6 và Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ chứng minh là nghĩa vụ của các bên đương sự. Nguyên đơn bà A yêu cầu bị đơn bà C trả tiền hụi còn nợ là 9.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà A có nộp cho Tòa án Danh sách hụi viên của dây hụi mùa 3.000.000 đồng (dây số 3) mở ngày 26-9-2019 âm lịch và tờ giấy đề ngày 02-3-2023 (nội dung bà C ký tên xác nhận hốt hụi, còn thiếu 11 lần hụi chết chưa đóng, có đóng 01 lần hụi chết). Các chứng cứ này thể hiện giữa bà A với bà C có thỏa thuận giao dịch hụi với nhau, trong đó bà A là đầu thảo, bà C là hụi viên. Quá trình giao dịch hụi, bà A đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của chủ hụi là gom tiền, giao tiền hốt hụi cho bà C. Nhưng bà C đã vi phạm nghĩa vụ của hụi viên là không đóng đầy đủ tiền hụi chết sau khi đã hốt hụi cho bà A.
Ngày 30-5-2025, Tòa án đã tiến hành xác minh với chính quyền địa phương ấp A; Đồng thời, một số hụi viên trong dây hụi cùng có văn bản xác nhận việc họ tham gia giao dịch hụi chung với bà C trong dây hụi mùa 3.000.000 đồng (dây số 3) mở ngày 26-9-2019 âm lịch do bà A làm đầu thảo, các hụi viên có đóng tiền hụi đầy đủ để bà A giao tiền hốt hụi cho bà C nhận xong, nhưng bà C chưa đóng lại tiền hụi chết nên bà A phải xuất tiền riêng choàng hụi thay, được chính quyền địa phương ấp A C1 xác nhận là sự thật (Các bút lục số 43, 44 trong hồ sơ vụ án). Tranh chấp tiền hụi giữa bà A với bà C trong dây hụi này đã được giải quyết theo Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án một phần, được Tòa án ban hành Quyết định số 84/2023/QĐCNHGT-DS ngày 05-10-2023 công nhận kết quả hòa giải thành bà C tự nguyện trả tiền nợ hụi từ lần khui thứ năm (ngày 17-02-2021 âm lịch) đến lấn khui thứ mười hai (ngày 07-5-2023 âm lịch) cho bà A bằng số tiền 22.000.000 đồng. Sau đó, dây hụi tiếp tục khui 03 lần đến mãn [Từ lần thứ mười ba (ngày 07-10-2023) đến lần thứ mười lăm mãn hụi (ngày 02-6-2024)] thì bà C vẫn không đóng hụi chết, nên bà A tiếp tục khởi kiện. Quá trình tố tụng vụ án, bà C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án bà A kiện đòi tiền hụi, bà C cũng được tống đạt thông báo yêu cầu giao nộp chứng cứ nhưng vẫn cố tình trốn tránh không đến Tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến, không nộp bất kỳ chứng cứ nào phản bác yêu cầu của bà A. Như vậy, bà C đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của bà trong vụ án.
Theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” và tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định“Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Từ đó, có cơ sở xác định bà C là hụi viên có tham gia giao dịch dây hụi mùa 3.000.000 đồng (dây số 3) mở ngày 26-9-2019 âm lịch do bà A làm đầu thảo, bà C đã hốt hụi, nhận đủ tiền hụi, có đóng hụi chết, hiện còn nợ 03 lần hụi chết là sự thật. Các bên giao kết hợp đồng góp hụi đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện và nội dung, mục đích của hợp đồng góp hụi không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên hợp đồng này là hợp pháp theo quy định tại các Điều 117, 280, 471 Bộ luật Dân sự. Bà C đã vi phạm nghĩa vụ của hụi viên, không góp tiền hụi chết đầy đủ cho chủ hụi là bà A, bà A đã phải đóng hụi thay cho bà C để duy trì dây hụi, chính sự vi phạm nghĩa vụ của bà C đã trực tiếp gây thiệt hại đến quyền lợi của bà A, nên bà C có nghĩa vụ phải trả lại cho bà A số tiền hụi đã đóng thay 03 lần là 9.000.000 đồng theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu phường.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu của bà A; Buộc bà C phải có trách nhiệm trả cho bà A số tiền hụi còn nợ là 9.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của bà A được chấp nhận, nên bà không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã đóng. Đối với bà C, theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án chỉ có thông tin năm sinh của bà C là năm 1965, nhưng bà C không cung cấp giấy tờ tùy thân nên không có cơ sở để xác định bà có phải thuộc diện người cao tuổi, bà C cũng không có đơn đề nghị miễn, giảm tiền án phí theo quy định pháp luật, nên bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5% trên số tiền nợ phải trả cho bà A.
Xét quan điểm của Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Vĩnh Long là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 70, 91, 144, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 280, 351, 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 26, điểm b Tiểu mục 1.3 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 16, 17, 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu phường; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị A.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị C phải trả cho nguyên đơn bà Lâm Thị A số tiền hụi còn nợ trong dây hụi mùa 3.000.000 đồng (dây số 3) mở ngày 26-9-2019 âm lịch từ lần khui thứ mười ba (ngày 07-10-2023) đến lần khui thứ mười lăm mãn hụi (ngày 02-6-2024) là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị C phải nộp là 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Lâm Thị A số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004723 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Vĩnh Long; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 11 - Vĩnh Long; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Vĩnh Long; - Lưu: VT; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |