- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh Hồ Nghĩa T và chị Hồ Thị L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Nghĩa T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| toµ ¸n nh©n d©n huyÖn quúnh l u TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2025/DS - ST Ngày: 16- 01-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hằng và ông Đậu Cao Nhu
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An.
- Đại diện VKS nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 93/2024/TLST - DS ngày 03/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST - DS ngày 30 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hồ Nghĩa T, sinh năm 1993; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 5, xã QM, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1985; vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm ĐT, xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản lấy lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Hồ Nghĩa T trình bày:
Anh T và chị Hồ Thị L không có quan hệ gì, chỉ là quen biết bạn bè. Vào thời gian ngày 02/7/2024 chị Hồ Thị L có đến nhà anh T hỏi vay 700.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, vì tin tưởng trước đây chị L cũng có vay đã trả đầy đủ nên anh T đã cho chị L vay tiền. Khi vay tiền có mặt vợ anh T là chị Hồ Thị T nhưng việc vay không liên quan đến chị T, vì số tiền cho vay là tiền riêng của anh. Khi cho vay, anh T có quay video và chụp ảnh lại, toàn bộ tài liệu này anh đã gửi cho Tòa án. Chị L có hẹn 4 ngày sau sẽ trả đủ tiền nhưng đến 4 ngày sau thì chị L có đến nhà chuyển cho anh T 470.000.000 đồng và nói đến tối xoay tiền được nữa thì trả hết nên anh T không ghi lại việc chị L trả cho anh số tiền đó. Đến tối ngày 06/7/2024, anh T có điện cho chị L thì chị L nói chị xoay được tiền rồi nhưng sáng mai đưa đến, đến sáng mai thì anh T không gọi được với chị L nữa. Anh T có lên nhà chị L thì thấy nói chị L đi Hà Nội rồi, từ đó đến nay anh T không liên lạc được với chị L. Nay anh T yêu cầu chị L trả số tiền gốc là 230.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tòa án nhưng chị L vẫn không hợp tác, không có mặt tại Tòa án để làm việc, không có bản tự khai gửi Tòa án.
Kết quả xác minh tại xóm trưởng xóm ĐT, xã QB: Chị Hồ Thị L đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xóm ĐT, xã QT, huyện QL, tỉnh Nghệ An nhưng hiện nay chị L không có mặt tại địa phương, không rõ thời gian trở về, gia đình bên chồng thì ở xóm ĐH, xã QB, gia đình bên ngoại thì ở xóm 6, xã Quỳnh L. Các con của chị L hiện tại cũng đang ở bên ngoại, khoảng tháng 10 năm 2024 thì vẫn thấy chị L ở nhà nhưng hiện nay đi làm ăn thì không thấy ở nhà.
Kết quả xác minh tại chị Nguyễn Thị Vy, là em của chị Hồ Thị L: Chị Hồ Thị L ở riêng tại xóm xóm ĐT, xã QT, huyện QL nhưng cách đây vài tháng do bể nợ nên đã bán nhà đi khỏi địa phương, cũng không liên lạc với gia đình nhà chồng.
Ông Hồ Viết L là bố đẻ chị Hồ Thị L cho biết: Khoảng rằm tháng 7 năm 2024 (âm lịch) thì thấy các con chị L đến và nói ở với ông bà ngoại vì chị L không ở nhà, anh Hồ Bá D chồng chị L thì đi lái xe thường xuyên nhưng từ khi các cháu đến ở cũng không thấy chị L gọi điện về cho gia đình.
Kết quả xác minh tại Công an xã QB: Chị Hồ Thị L vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại xã QB, huyện QL, chưa cắt hộ khẩu đi đâu, cũng không thông báo tạm vắng cho địa phương biết.
Tại phiên họp tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ, nguyên đơn anh Hồ Nghĩa T giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ là: Video quay lại việc ký kết giấy vay tiền và người cầm giấy vay tiền của chị Hồ Thị L. Sau khi tiến hành xác minh, người nhà và cán bộ xóm Đồng Hưng, xã Quỳnh Bảng đều xác nhận người trong video và ảnh mà anh T cung cấp là chị Hồ Thị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
Về việc thuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ thời điểm thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa, đề nghị HĐXX, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc chị Hồ Thị L phải trả cho anh Hồ Nghĩa T số tiền gốc 230.000.000 đồng, về lãi suất anh T không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Hồ Thị L nộp án phí dân sự sơ thẩm là 11.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Anh Hồ Nghĩa T yêu cầu chị Hồ Thị L trả nợ, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xóm ĐT, xã QT, huyện QL nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu theo khoản 3, Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về việc thụ lý vụ án: Qua điều tra xác minh cho thấy, chị Hồ Thị L có đăng ký hộ khẩu tại xã Quỳnh Bảng, hiện chưa có thông tin cắt hộ khẩu hoặc tạm vắng đi đâu. Bố mẹ và em chị Hồ Thị L đều khẳng định chị Hồ Thị L có địa chỉ sinh sống tại xóm ĐT, xã QT, huyện QL, tỉnh Nghệ An. Do đó cho thấy việc nguyên đơn cung cấp địa chỉ của chị Hồ Thị L là chính xác. Tòa án cũng đã điều tra xác minh nhưng không có thông tin địa chỉ cụ thể của chị Hồ Thị L. Đồng thời, chị Hồ Thị L là người có nghĩa vụ, nhưng trước khi đi khỏi địa phương, chị L không thông báo cho anh T biết địa chỉ nơi đến, nên được xác định là trường hợp cố tình dấu địa chỉ, Vì vậy, căn cứ Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
. Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn bà Hồ Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Nguyên đơn anh Hồ Nghĩa T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
. Về nội dung:
Xét giấy vay tiền ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa anh Hồ Nghĩa T và chị Hồ Thị L: Căn cứ vào video và ảnh chụp chị Hồ Thị L, căn cứ vào kết quả xác minh người trong hình là chị Hồ Thị L của cán bộ xóm và người nhà chị Hồ Thị L, cho thấy có việc chị Hồ Thị L vay tiền của anh Hồ Nghĩa T số tiền 700.000.000 đồng. Giấy vay tiền được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có nội dung phù hợp với quy định pháp luật và không trái với đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử nhận định đây là hợp đồng hợp pháp, là căn cứ để giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên.
Theo giấy vay tiền chị Hồ Thị L vay của anh Hồ Nghĩa T 700.000.000 đồng, không lãi suất, thời hạn trả nợ là ngày 07/7/2024. Do đó xác định đây là hợp đồng vay tiền có thời hạn và không lãi suất. Anh T không cung cấp được cho Tòa án quá trình chị L trả tiền để còn lại số tiền chị L còn nợ anh T là 230.000.000 đồng, tuy nhiên các chứng cứ, tài liều trên đều thể hiện việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận.
Do đó cần buộc chị Hồ Thị L trả nợ cho anh Hồ Nghĩa T số tiền nợ gốc 230.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 02 tháng 7 năm 2024 là đúng quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không hợp tác, không đưa ra được ý kiến trình bày của mình về việc khởi kiện trên. Nếu chị L có căn cứ về việc chị đã thực hiện nghĩa vụ với anh Hồ Nghĩa T đầy đủ thì có thể khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
. Về án phí: Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào các Điều 280, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Nghĩa T.
2.1. Buộc chị Hồ Thị L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho anh Hồ Nghĩa T số tiền nợ gốc 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng) theo giấy vay tiền ngày 02 tháng 7 năm 2024.
3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị L phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 11.500.000đ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho anh Hồ Nghĩa T số tiền tạm ứng án phí 5.700.000đ (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005675 ngày 03/10/2024 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn khác cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKS ND huyện Q.Lưu; - THADS Quỳnh Lưu; - Các đương sự; - Lưu VP, HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Hà |