vanban.org

Bản án 01/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng các Điều 26, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lâm Kim P: Buộc bà Phạm Như Ý và ông Nguyễn Văn K phải c nghĩa vụ liên đới trả cho bà P tổng số tiền nợ gốc vay là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng), trả khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày bà P có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Ý, ông K chậm …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lâm Kim P - Phạm Như Y"
  • Tòa quyết gì? p dụng các Điều 26, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/DS-ST
Ngày: 06 - 01 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Diện

Ông Trần Hoàng Bé

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 417/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc“Tranh chấp hợp đồng vay”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Kim P, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C ..

- Bị đơn: Bà Phạm Như Ý, sinh năm 1991.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1988;

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C ..

Tại phiên tòa, bà Lâm Kim P có mặt, bà Phạm Như Ý và ông Nguyễn Văn K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lâm Kim P trình bày:

Ngày 08/03/2024 âm lịch, bà Phạm Như Ý có lại nhà và hỏi mượn bà số tiền 10.000.000đ, lãi suất tự thỏa thuận, trả được lãi 02 tháng thì bà Phạm Như Ý không đóng lãi nữa. Do cần vốn để lấy đồ tươi về bán và bỏ vé số cho khách hành bán lẻ, vài ngày sau đó bà Ý có mượn thêm số tiền 4.600.000đ và đến ngày 06/4/2024 âm lịch bà tiếp tục cho bà Phạm Như Ý mượn thêm 7.000.000đ, bà Phạm Như Ý hứa 04 ngày sẽ trả nhưng không thực hiện. Sau đó, chồng bà Phạm Như Ý là ông Nguyễn Văn K có hứa hẹn với bà là mỗi ngày sẽ trả 100.000đ bà đồng ý nhưng trả được 06 ngày số tiền 600.000đ thì ông K không trả nữa, ông K có hứa cố nhà sẽ trả hết nợ cho bà nhưng đến nay vẫn không thực hiện mặc dù bà đã nhiều lần liên hệ để đòi nợ, nhưng ông K, bà Ý cố tình trốn tránh.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Phạm Như Ý cùng chồng là ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm liên đới trả cho bà tổng số tiền là 21.000.000đ bà không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa, bà Lâm Kim P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện không bổ sung gì thêm.

* Đối với bị đơn bà Phạm Như Ý và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn K được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lâm Kim P khởi kiện bà Phạm Như Ý yêu cầu trả tiền vốn vay nên đây là“Tranh chấp hợp đồng vay” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là bà Phạm Như Ý có nơi cư trú tại ấp Tân Bửu, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Phạm Như Ý là bị đơn, ông Nguyễn Văn K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng bà Ý, ông K vẫn vắng mặt không c lý do, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Ý, ông K là phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Lâm Kim P khởi kiện yêu cầu buộc bà Phạm Như Ý cùng chồng là ông Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà P tổng số tiền đã vay là 21.000.000 đồng, thấy rằng: Giao dịch dân sự về việc vay tiền giữa bà P với bà Ý mặc dù không có lập thành văn bản nhưng thực tế có thỏa thuận miệng với nhau, nội dung thỏa thuận không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Đối với bị đơn là bà Phạm Như Ý và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn K kể từ khi thụ lý giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã ra Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Ý, ông K không đến tham dự. Tòa án cũng đã triệu tập bà Ý, ông K để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, căn cứ vào biên bản ghi lời trình bày của nguyên đơn là bà Lâm Kim P và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án mà nguyên đơn cung cấp, cụ thể là đoạn video ghi nhận lời thừa nhận của bà Phạm Như Ý có thiếu bà Lâm Kim P số tiền 21.000.000đ (đã lưu hồ sơ vụ án).

Đối với chồng bà Phạm Như Ý là ông Nguyễn Văn K mặc dù không có tham gia thỏa thuận vay tiền với bà P, tuy nhiên theo xác nhận của chính quyền địa phương tại Biên bản ngày 18/12/2024 thì bà Ý và ông K vẫn còn quan hệ hôn nhân là vợ chồng và bà P xác định khi vay tiền thì bà Ý có xác định là vay để làm ăn, chi tiêu trong gia đình, chồng bà Ý là ông K có biết và đã đóng lãi cho bà 600.000đ mới ngưng đóng lãi. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông K cùng bà Ý cùng có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền vay cho bà P là hoàn toàn phù hợp với quy định, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, buộc bà Phạm Như Ý cùng chồng là ông Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lâm Kim P tổng số tiền vay 21.000.000đ là có căn cứ.

Đối với yêu cầu tính lãi: Nguyên đơn là bà Lâm Kim P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

p dụng các Điều 26, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lâm Kim P: Buộc bà Phạm Như Ý và ông Nguyễn Văn K phải c nghĩa vụ liên đới trả cho bà P tổng số tiền nợ gốc vay là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng), trả khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà P có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Ý, ông K chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nêu trên tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Như Ý, ông Nguyễn Văn K phải c nghĩa vụ nộp 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch - Chưa nộp.

Nguyên đơn là bà Lâm Kim P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 30/9/2024 có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 525.000đ (Năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013618 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được nhận lại toàn bộ.

3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ